
So sánh IFRS và VAS thực sự cần thiết vì đây chính là hai chuẩn mực BCTC đang được sử dụng tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo lộ trình của bộ Tài chính đưa ra, IFRS sẽ thay thế VAS sau năm 2025, đây chính là giai đoạn để các doanh nghiệp Việt Nam chuẩn bị và đưa ra chiến lược kịp thời để nhanh chóng thích ứng, kịp thời chuyển đổi áp dụng IFRS.
Điểm khác biệt lớn nhất giữa IFRS và VAS là: IFRS dựa trên các nguyên tắc (principle-based), trong khi VAS dựa trên các quy tắc (rule-based). Bài viết này đưa ra những khác biệt cơ bản giữa hai loại BCTC IFRS và VAS, từ đó cho phép các doanh nghiệp, kế toán viên đưa ra những đánh giá đầu tiên về các khác biệt quan trọng dự kiến cũng như các lưu ý khi thực hiện việc chuyển đổi. Bài viết so sáng dựa trên những khác biệt chính đối với yêu cầu về trình bày tổng thể báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng như các chủ đề quan trọng khác. Mời các bạn đọc chi tiết bên dưới để hiểu và đánh giá giữa hai loại BCTC.
>>>>Tham khảo khóa học: Khoá học IFRS toàn diện (CertIRF, DipIFR, VAS to IFRS)
Doanh nghiệp phải lập và trình bày báo cáo tài chính của mình để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. Các yêu cầu tổng thể đối với việc trình bày báo cáo tài chính, hướng dẫn về cấu trúc của báo cáo tài chính và các yêu cầu tối thiểu về nội dung của báo cáo tài chính được điều chỉnh theo các hướng dẫn sau:
| VAS | IFRS |
| Tổng quan | |
Báo cáo tài chính bao gồm:
|
Báo cáo tài chính bao gồm:
∙ Báo cáo tình hình tài chính ∙ Báo cáo lãi hoặc lỗ và thu nhập toàn diện khác ∙ Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu ∙ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ∙ Bản thuyết minh báo cáo tài chính, bao gồm bản tóm tắt các chính sách kế toán quan trọng và các thuyết minh khác ∙ Báo cáo tình hình tài chính tại thời điểm bắt đầu của kỳ kế toán trước khi doanh nghiệp áp dụng hồi tố một chính sách kế toán hoặc điều chỉnh hồi tố các khoản mục trên báo cáo tài chính hoặc khi phân loại lại các khoản mục trên báo cáo tài chính (nếu áp dụng) |
| Không có yêu cầu tương tự. |
Khi doanh nghiệp trình bày các báo cáo tài chính theo IFRS, doanh nghiệp phải tuyên bố rõ ràng về việc tuân thủ theo IFRS trong các thuyết minh báo cáo tài chính. Doanh nghiệp không được thuyết minh là báo cáo tài chính tuân thủ theo IFRS trừ khi các báo cáo tài chính tuân thủ theo tất cả các yêu cầu của IFRS. |
| Không có yêu cầu tương tự. |
Doanh nghiệp có thể trình bày thêm thông tin so sánh ngoài các thông tin so sánh tối thiểu, miễn là các thông tin đó được lập theo IFRS. |
|
Doanh nghiệp không được phép trình bày bổ sung các hạng mục nếu chúng không được quy định trong mẫu biểu của Thông tư 200. |
Doanh nghiệp được trình bày bổ sung các hạng mục, tiêu đề và tổng phụ nếu việc trình bày đó phù hợp cho việc hiểu biết về tình hình tài chính của doanh nghiệp. |
|
Thông tư 200 cung cấp một mẫu biểu các báo cáo tài chính với các khoản mục cụ thể. Doanh nghiệp bắt buộc phải áp dụng mẫu biểu này để lập báo cáo tài chính. |
Doanh nghiệp phải trình bày riêng từng nhóm các khoản mục trọng yếu có tính chất tương đồng. Doanh nghiệp phải trình bày riêng các khoản mục có bản chất hay chức năng không tương đồng trừ khi các khoản mục này không trọng yếu. |
|
Bảng cân đối kế toán / Báo cáo tình hình tài chính |
|
| VAS sử dụng thuật ngữ “Bảng cân đối kế toán” để trình bày tài sản, vốn chủ sở hữu và nợ phải trả của doanh nghiệp tại ngày của báo cáo. |
IFRS sử dụng thuật ngữ “Báo cáo tình hình tài chính” để trình bày tài sản, vốn chủ sở hữu và nợ phải trả của doanh nghiệp tại ngày của báo cáo. Doanh nghiệp phải trình bày tài sản ngắn hạn và dài hạn và nợ ngắn hạn và dài hạn theo các phân loại riêng trong báo cáo tình hình tài chính. IFRS không quy định thứ tự hoặc cấu trúc cho việc phân loại, tuy nhiên, thứ tự trình bày thường được áp dụng từ dài hạn đến ngắn hạn. |
| Thông tư 200 hướng dẫn chi tiết việc lập và trình bày báo cáo tài chính theo cơ sở thanh lý. | Mặc dù IFRS không hướng dẫn cụ thể về việc lập báo cáo tài chính theo cơ sở thanh lý, doanh nghiệp được yêu cầu phải trình bày tất cả tài sản và nợ phải trả dựa trên thứ tự thanh khoản, nếu áp dụng. |
| Không có yêu cầu tương tự. | Doanh nghiệp phải thuyết minh riêng “tổng tài sản được phân loại là nắm giữ để bán và các tài sản nằm trong nhóm tài sản chờ thanh lý được phân loại là nắm giữ để bán” và “các khoản nợ phải trả nằm trong nhóm nợ phải trả chờ thanh lý được phân loại là nắm giữ để bán”, nếu áp dụng. |
|
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh / Báo cáo thu nhập toàn diện |
|
| Doanh nghiệp phải trình bày tất cả các khoản mục thu nhập và chi phí được ghi nhận trong kỳ trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. | Doanh nghiệp phải trình bày tất cả các khoản mục thu nhập và chi phí được ghi nhận trong kỳ:
|
| Không có yêu cầu tương tự.
VAS không yêu cầu trình bày thông tin liên quan đến các hoạt động không tiếp tục |
Nếu áp dụng, báo cáo thu nhập toàn diện sẽ bao gồm một mục riêng là tổng của (i) lãi hoặc lỗ sau thuế của các hoạt động không tiếp tục và (ii) lãi hoặc lỗ sau thuế được ghi nhận trên cơ sở đo lường giá trị hợp lý trừ chi phí bán hoặc chi phí thanh lý tài sản hoặc (các) nhóm tài sản thanh lý của các hoạt động không tiếp tục. |
| Không có yêu cầu tương tự. | Báo cáo thu nhập toàn diện phải bao gồm từng thành phần của thu nhập toàn diện khác được phân loại theo bản chất.
Các yếu tố cấu thành thu nhập toàn diện khác là các khoản doanh thu, chi phí, lãi và lỗ được loại trừ khỏi báo cáo lãi hoặc lỗ khi chúng chưa được thực hiện. |
| Doanh nghiệp phải trình bày các khoản chi phí theo chức năng được phân loại theo mẫu biểu của Thông tư 200.
Các khoản chi phí theo yếu tố phải trình bày trong Thuyết minh báo cáo tài chính. |
Doanh nghiệp phải trình bày phân tích các khoản chi phí được ghi nhận vào báo cáo lãi hoặc lỗ theo cách phân loại dựa trên bản chất hoặc chức năng của chi phí, tùy theo thông tin nào đáng tin cậy và phù hợp hơn.
Doanh nghiệp phân loại chi phí theo chức năng phải trình bày thông tin bổ sung về bản chất của chi phí, bao gồm chi phí khấu hao và phân bổ và chi phí phúc lợi cho nhân viên. |
|
Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu |
|
| Doanh nghiệp không phải trình bày một báo cáo riêng về các thay đổi vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải thuyết minh những thông tin này trong Thuyết minh báo cáo tài chính. | Doanh nghiệp phải trình bày một báo cáo về những thay đổi trong vốn chủ sở hữu bao gồm thông tin về các thành phần vốn chủ sở hữu và tổng thu nhập toàn diện. |
|
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ |
|
| Các khoản thanh toán chi phí lãi vay được phân loại là các hoạt động kinh doanh. | Các khoản thanh toán chi phí lãi vay thường được phân loại là các hoạt động tài chính. |
| VAS không có hướng dẫn về các giao dịch này. | Các khoản thu (thanh toán) cho các hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn và hợp đồng hoán đổi được phân loại là các hoạt động đầu tư. |
|
Chính sách kế toán |
|
|
Xem những khác biệt chính trong Mục 1.2. |
|
|
Bản thuyết minh báo cáo tài chính |
|
| Không có yêu cầu tương tự. | Doanh nghiệp phải trình bày các thông tin cho phép người sử dụng báo cáo tài chính có thể đánh giá các mục tiêu, chính sách và quy trình quản lý nguồn vốn của doanh nghiệp. |
| Không có yêu cầu tương tự. | Đối với các công cụ tài chính có thể bán lại cho chủ sở hữu được phân loại là công cụ vốn, doanh nghiệp phải thuyết minh (đối với các thông tin chưa được trình bày ở các phần khác) tóm tắt dữ liệu định lượng về các khoản được phân loại là vốn chủ sở hữu và các thông tin liên quan khác về việc mua lại hoặc hoàn lại các công cụ tài chính đó. |
Các lưu ý khi chuyển đổi báo cáo tài chính theo IFRS:
Khi chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS, doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề sau đây:
1. Báo cáo tài chính theo IFRS được thiết kế cho mục đích sử dụng chung nhằm đảm bảo tính so sánh với báo cáo tài chính các kỳ trước của doanh nghiệp và với báo cáo tài chính của các doanh nghiệp khác. Do đó, báo cáo tài chính theo IFRS không có một khuôn mẫu hay định dạng cố định như báo cáo tài chính theo VAS (hoặc Thông tư 200).
2. Ngoài các yêu cầu trình bày tối thiểu của IAS 1, các doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về công bố thông tin của các IFRS khác. Do đó, doanh nghiệp phải trình bày thuyết minh bổ sung để tuân thủ IFRS.
3. Các doanh nghiệp duy trì đồng thời cả hệ thống kế toán theo IFRS và VAS nên thiết lập một hệ thống tham chiếu các tài khoản để phân loại các số dư/giao dịch theo VAS sang các khoản mục phù hợp theo IFRS. Hệ thống tham chiếu các tài khoản này sẽ hữu ích cho việc chuyển đổi từ VAS sang IFRS.
4. Khi lập báo cáo tài chính theo IFRS, doanh nghiệp nên sử dụng công cụ kiểm tra (checklist) để đảm bảo các thông tin yêu cầu về trình bày và thuyết minh theo IFRS không bị bỏ sót. Hiện tại, một số doanh nghiệp đang cung cấp các công cụ này nhằm cải thiện chất lượng lập báo cáo tài chính lập theo IFRS.
Chính sách kế toán là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính. Chính sách kế toán được trình bày và áp dụng trong các báo cáo tài chính theo các hướng dẫn sau:
Những khác biệt chính giữa VAS và IFRS:
| VAS | IFRS |
|
Trình bày các chính sách kế toán |
|
|
Doanh nghiệp phải tuyên bố tuân thủ VAS và các quy định hiện hành về lập và trình bày báo cáo tài chính ở Việt Nam. |
Khi doanh nghiệp trình bày các báo cáo tài chính theo IFRS, doanh nghiệp phải tuyên bố rõ ràng về việc tuân thủ theo IFRS trong các thuyết minh báo cáo tài chính. Doanh nghiệp không được thuyết minh là báo cáo tài chính tuân thủ theo IFRS trừ khi các báo cáo tài chính tuân thủ theo tất cả các yêu cầu của IFRS. |
| Không có yêu cầu tương tự. | Trong bản tóm tắt của các chính sách kế toán quan trọng và các thuyết minh khác, doanh nghiệp phải thuyết minh các xét đoán của Ban Giám đốc, một phần trong việc xác định các ước tính mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình áp dụng chính sách kế toán và có ảnh hưởng đáng kể nhất đến các số liệu được ghi nhận trong báo cáo tài chính. |
| Không có yêu cầu tương tự. | Doanh nghiệp phải trình bày thông tin về các giả định và các nguồn cơ sở chính về tính không chắc chắn của các ước tính được thực hiện vào cuối kỳ báo cáo khi các ước tính này có rủi ro đáng kể sẽ dẫn đến các điều chỉnh trọng yếu tới giá trị ghi sổ của các tài sản và nợ phải trả trong năm tài chính tiếp theo. |
| Không có yêu cầu tương tự. | Doanh nghiệp phải trình bày các thông tin cho phép người sử dụng báo cáo tài chính có thể đánh giá các mục tiêu, chính sách và quy trình quản lý nguồn vốn của doanh nghiệp. |
|
Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán |
|
| Ngoại trừ các trường hợp cụ thể, doanh nghiệp không được áp dụng chính sách kế toán có khác biệt với VAS. | Trong một số rất ít trường hợp, doanh nghiệp có thể áp dụng chính sách kế toán khác với một yêu cầu của một IFRS nếu Ban Giám đốc cho rằng việc tuân thủ có thể làm sai lệch các thông tin trên báo cáo tài chính tới mức mâu thuẫn với mục tiêu của các báo cáo tài chính như quy định trong Khuôn khổ Khái niệm về Báo cáo Tài chính của IASB, nếu khuôn khổ pháp lý liên quan yêu cầu. Các trường hợp khác, doanh nghiệp không được áp dụng chính sách kế toán có khác biệt với IFRS.
Trong một số rất ít trường hợp, việc tuân thủ với một yêu cầu của một IFRS có thể làm sai lệch thông tin, nhưng khuôn khổ pháp luật có liên quan không cho phép việc thực hiện khác với IFRS, thì doanh nghiệp cần phải thuyết minh một số thông tin cụ thể. |
|
Kế toán trên cơ sở thanh lý |
|
|
Thông tư 200 đưa ra một số hướng dẫn về chính sách kế toán khi lập báo cáo tài chính trên cơ sở thanh lý. Theo nguyên tắc, tài sản được ghi nhận là ngắn hạn và theo giá trị có thể thu hồi được và nợ phải trả được ghi nhận là ngắn hạn và theo giá cam kết phải trả tại ngày báo cáo tài chính. |
IFRS quy định rằng doanh nghiệp lập báo cáo tài chính trên cơ sở hoạt động liên tục “trừ khi Ban Giám đốc có ý định thanh lý doanh nghiệp hoặc ngừng kinh doanh hoặc không có giải pháp thay thế thực tế nào khác ngoài việc làm như vậy”. Tuy nhiên, IFRS không đưa ra hướng dẫn cụ thể về khi nào hoặc kế toán trên cơ sở thanh lý như thế nào. |
|
Thay đổi chính sách kế toán |
|
|
Nếu một hướng dẫn kế toán mới yêu cầu phải thay đổi chính sách kế toán nhưng không yêu cầu hồi tố cụ thể, doanh nghiệp thường áp dụng theo phương pháp phi hồi tố đối với việc thay đổi chính sách kế toán đó. |
Nếu thay đổi chính sách kế toán do lần đầu áp dụng một IFRS, doanh nghiệp được áp dụng thay đổi chính sách kế toán theo các điều khoản chuyển tiếp cụ thể của IFRS đó. Trong trường hợp không có điều khoản chuyển tiếp cụ thể nào, doanh nghiệp áp dụng hồi tố đối với các thay đổi chính sách kế toán. |
| Các chính sách kế toán mới thường được áp dụng kể từ ngày hiệu lực của quy định. |
Doanh nghiệp được áp dụng sớm các chính sách kế toán mới nếu IFRS cho phép trừ khi có quy định cấm cụ thể. |
| Doanh nghiệp không phải trình bày các chuẩn mực mới/hướng dẫn mới/sửa đổi theo VAS khi các chuẩn mực/hướng dẫn/sửa đổi này chưa có hiệu lực. |
IAS yêu cầu doanh nghiệp phải thuyết minh một chuẩn mực IFRS mới đã được ban hành nhưng chưa có hiệu lực, cùng với thông tin đã biết hoặc ước tính phù hợp để đánh giá tác động có thể có của việc áp dụng chuẩn mực IFRS mới đối với báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong giai đoạn áp dụng ban đầu. |
Các lưu ý khi chuyển đổi báo cáo tài chính theo IFRS:
Khi chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS, doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề sau đây:
1. Trong báo cáo tài chính IFRS đầu tiên, doanh nghiệp phải chuyển đổi chính sách kế toán từ VAS sang IFRS tại ngày chuyển đổi. Tuy nhiên, doanh nghiệp được phép sử dụng một số chính sách kế toán theo VAS do miễn trừ lần đầu tiên áp dụng IFRS trong một số khoản mục nhất định. Việc này sẽ giúp doanh nghiệp giảmkhối lượng công việc và chi phí chuyển đổi. Vui lòng xem IFRS 1 – Lần đầu tiên áp dụng IFRS để được hướng dẫn thêm.
2. Một số quy định kế toán theo IFRS chưa được áp dụng tại Việt Nam như: thuê, tài sản sinh học, công cụ tài chính, phúc lợi của người lao động, trợ cấp của chính phủ, đo lường giá trị hợp lý, suy giảm giá trị tài sản, chính, phúc lợi của người lao động, trợ cấp của chính phủ, đo lường giá trị hợp lý, suy giảm giá trị tài sản, v.v. cần phải được thuyết minh cụ thể trong các chính sách kế toán của báo cáo tài chính theo IFRS. Doanh nghiệp phải lập và trình bày các chính sách kế toán đó trong báo cáo tài chính IFRS của mình.
3. Việc thực hiện khác IFRS không bị cấm nhưng doanh nghiệp cần có bằng chứng chắc chắn về tính hợp lý khi áp dụng các chính sách kế toán khác có ý nghĩa hơn đối với người sử dụng báo cáo tài chính IFRS. Tuy nhiên, những trường hợp này rất hiếm sảy ra và không được khuyến khích áp dụng.
>>> Xem thêm: Khoá học CertIFR – Chứng chỉ lập Báo cáo Tài chính quốc tế (Level 1)
Các tài sản cố định bao gồm bất động sản, nhà xưởng và thiết bị được ghi nhận là Tài sản cố định hữu hình theo VAS và bất động sản, nhà xưởng và thiết bị theo IFRS, được điều chỉnh theo các hướng dẫn sau:
∙ VAS 3 Tài sản cố định hữu hình, Thông tư 45 hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định và Thông tư 200 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam.
∙ IAS 16 Bất động sản, nhà xưởng và thiết bị (“PPE”).
Những khác biệt chính giữa VAS và IFRS:
|
VAS |
IFRS |
|
Ghi nhận ban đầu |
|
| Quyền sử dụng đất được ghi nhận là tài sản cố định vô hình (hoặc chi phí trả trước dài hạn) | Quyền sử đất dụng vô thời hạn được phân loại là PPE. |
| Không có quy định tương tự theo VAS. | Chi phí của một hạng mục trong PPE bao gồm chi phí tháo dỡ và di dời một tài sản và hoàn trả mặt bằng, nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải chịu do hệ quả của việc lắp đặt tài sản đó. |
| Tài sản có giá trị thấp (nguyên giá dưới 30 triệu VNĐ), như phụ tùng, thiết bị bảo dưỡng tồn kho được ghi nhận là hàng tồn kho. | Tài sản có giá trị thấp, phụ tùng, thiết bị bảo dưỡng thay thế cho mục đích liên quan đến nhà xưởng, thiết bị, thì được ghi nhận là PPE. |
| Giá trị hợp lý cũng được đề cập trong Thông tư 200 đối với giao dịch trao đổi tài sản. Tuy nhiên, ước tính giá trị hợp lý không được hướng dẫn rõ ràng theo VAS. | Nếu một PPE được mua để đổi lấy một tài sản phi tiền tệ, thì nguyên giá của hạng mục tài sản, nhà xưởng và thiết bị đó được ghi nhận theo giá trị hợp lý. |
| Tài sản cố định hữu hình bao gồm tài sản sinh học nếu đáp ứng các tiêu chuẩn ghi nhận. | Tài sản sinh học không thuộc phạm vi điều chỉnh của IAS 16 – PPE và được hạch toán theo IAS 41 – Nông nghiệp. |
| Tài sản do thỏa thuận góp vốn được các nhà đầu tư ghi nhận theo giá trị thỏa thuận. | Không có yêu cầu tương tự theo IFRS. Tuy nhiên, về nguyên tắc, nguyên giá của PPE được ghi nhận theo giá trị trị hợp lý. |
|
Xác định giá trị sau khi ghi nhận ban đầu |
|
| Doanh nghiệp chỉ được phép áp dụng theo phương pháp giá gốc. | Doanh nghiệp được lựa chọn chính sách kế toán ghi nhận theo phương pháp giá gốc hoặc đánh giá lại và sẽ áp dụng chính sách đó nhất quán cho toàn bộ các nhóm PPE. |
| Không có yêu cầu ghi nhận tổn thất do suy giảm giá trị theo VAS. | Khoản mục PPE được ghi nhận theo nguyên giá trừ đi khấu hao lũy kế và các khoản lỗ lũy kế do suy giảm giá trị tài sản. |
|
Đánh giá lại giá trị |
|
| Một số trường hợp rất hiếm, tài sản cố định được đánh giá lại, bao gồm: theo quyết định của Nhà nước; chia tách doanh nghiệp và cổ phần hóa các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước. | Chỉ cho phép đánh giá lại giá trị PPE nếu doanh nghiệp áp dụng mô hình đánh giá lại để đo lường PPE. |
Các lưu ý khi chuyển đổi sang báo cáo tài chính theo IFRS:
1. Phân loại lại một số tài sản theo PPE, bao gồm tài sản cố định vô hình (phần mềm, quyền sử dụng đất vô thời hạn) và tài sản có giá trị thấp (dưới 30 triệu VNĐ) được ghi nhận là chi phí trả trước hoặc hàng tồn kho.
2. Ngoài việc tính khấu hao hàng năm, doanh nghiệp cần chuẩn bị báo cáo đánh giá suy giảm giá trị tài sản, và ghi nhận thêm chi phí trong trường hợp có dấu hiệu suy giảm giá trị tài sản.
3. Trong năm đầu tiên áp dụng IFRS, doanh nghiệp có thể chọn tiếp tục sử dụng phương pháp giá gốc hoặc chuyển sang phương pháp đánh giá lại tài sản. Chênh lệch giữa giá trị hợp lý theo phương pháp đánh giá lại và giá trị ghi sổ theo giá gốc được ghi nhận vào báo cáo thu nhập toàn diện khác và khấu hao của tài sản được đánh giá lại.
Tài sản là các bất động sản, bao gồm đất và tòa nhà, do chủ sở hữu hoặc người đi thuê nắm giữ theo hợp đồng thuê tài chính để hưởng tiền thuê hoặc chờ tăng giá trị tài sản hoặc cả hai. Việc xử lý kế toán đối với các tài sản này được điều chỉnh theo các hướng dẫn sau:
Nhìn chung các quy định của VAS tương đồng với IAS về các điều kiện ghi nhận ban đầu, xác định giá trị sau khi ghi nhận ban đầu và thuyết minh về bất động sản đầu tư. Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt giữa hai hệ thống chuẩn mực kế toán này.
Những khác biệt chính giữa VAS và IFRS:
| VAS | IFRS |
|
Ghi nhận ban đầu |
|
| Không cho phép ghi nhận theo mô hình giá trị hợp lý. | Bất động sản đầu tư do bên thuê nắm giữ theo hợp đồng thuê tài chính phải áp dụng phương pháp giá trị hợp lý (thấp hơn giữa: giá trị hợp lý của tài sản và giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu). |
| Không quy định cụ thể về khoản trả chậm. | Nếu việc thanh toán tiền mua bất động sản được trả chậm ngoài các điều khoản thông thường, phần chênh lệch (giữa giá trị trả 1 lần và tổng số tiền thanh toán) được ghi nhận là chi phí lãi trong thời gian trả chậm. |
|
Xác định giá trị sau khi ghi nhận ban đầu |
|
| VAS chỉ cho phép ghi nhận theo phương pháp giá gốc. | Doanh nghiệp được lựa chọn chính sách kế toán theo phương pháp giá trị hợp lý hoặc giá gốc và sẽ áp dụng chính sách đó cho tất cả các bất động sản đầu tư của mình. |
| Phương pháp giá gốc là nguyên giá trừ đi chi phí khấu hao. | Phương pháp giá gốc là nguyên giá trừ đi chi phí khấu hao và tổn thất do suy giảm giá trị tài sản. |
|
Phương pháp giá trị hợp lý |
|
| Không cho phép ghi nhận theo phương pháp giá trị hợp lý. | Lãi hoặc lỗ phát sinh do thay đổi giá trị hợp lý của tài sản sẽ được ghi nhận vào báo cáo lãi hoặc lỗ của kỳ phát sinh. |
|
Suy giảm giá trị tài sản |
|
| Tài sản được nắm giữ chờ tăng giá sẽ không khấu hao nhưng cần xem xét các lỗ do suy giảm giá trị tài sản. | Theo phương pháp giá gốc, doanh nghiệp phải xác định giá trị các bất động sản đầu tư theo các yêu cầu của IAS 16, bao gồm giá gốc trừ đi khấu hao và tổn thất do suy giảm giá trị tài sản lũy kế. |
|
Chuyển đổi |
|
| Việc điều chuyển bất động sản đầu tư sang tài sản cố định hoặc hàng tồn kho và ngược lại được hạch toán theo giá trị ghi sổ của tài sản tại ngày giao dịch. | Giá trị hợp lý tại ngày điều chuyển được coi là nguyên giá khi bất động sản đầu tư được xác định theo giá trị hợp lý. |
Các lưu ý khi chuyển đổi sang báo cáo tài chính theo IFRS:
Khi chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS, doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề sau đây:
1. Nhiều doanh nghiệp bất động sản cân nhắc áp dụng phương pháp giá trị hợp lý cho bất động sản đầu tư khi lập báo cáo tài chính IFRS vì có thể làm tăng giá trị doanh nghiệp.
2. Trong năm đầu tiên áp dụng IFRS, doanh nghiệp có thể chọn tiếp tục sử dụng phương pháp giá gốc hoặc giá trị hợp lý. Chênh lệch giữa giá trị hợp lý đánh giá lại của tài sản và giá trị ghi sổ được ghi nhận vào báo cáo thu nhập toàn diện khác (OCI) và khấu hao của tài sản được đánh giá lại.
3. Ngoài việc tính khấu hao hàng năm, doanh nghiệp cần chuẩn bị báo cáo đánh giá suy giảm giá trị tài sản, và ghi nhận thêm chi phí trong trường hợp có dấu hiệu suy giảm giá trị tài sản.
Tài sản sinh học là động vật hoặc thực vật sống. Hoạt động nông nghiệp được định nghĩa là quá trình biến đổi sinh học và thu hoạch các tài sản sinh học (động vật và thực vật sống) để bán hoặc chuyển đổi thành nông sản hoặc thành tài sản sinh học khác.
IAS 41 Nông nghiệp quy định việc xử lý kế toán đối với các tài sản sinh học trong thời kỳ sinh trưởng, thoái hóa, sản xuất và sinh sản và xác định giá trị ghi nhận ban đầu của sản phẩm nông nghiệp tại thời điểm thu hoạch.
VAS không có chuẩn mực tương đương, tuy nhiên tùy thuộc vào bản chất các giai đoạn của tài sản sinh học, tài sản sinh học sẽ được hạch toán theo các chuẩn mực kế toán khác nhau bao gồm VAS 02 Hàng tồn kho và VAS 16 Tài sản cố định hữu hình. Một số hướng dẫn kế toán đối với tài sản sinh học cũng được đề cập trong Thông tư 200.
Những khác biệt chính giữa VAS và IFRS:
| VAS | IFRS |
|
Phạm vi |
|
| Không có quy định hạch toán riêng biệt vào thời điểm trước và sau thời điểm thu hoạch. Tất cả các hoạt động được hạch toán theo VAS 02 Hàng tồn kho. | Chuẩn mực này được áp dụng cho nông sản, là sản phẩm thu hoạch từ tài sản sinh học của doanh nghiệp, và chỉ tại thời điểm thu hoạch. Sau đó, doanh nghiệp áp dụng IAS 2 – Hàng tồn kho hoặc một chuẩn mực khác. Theo đó, chuẩn mực này không bao gồm kế toán việc chế biến nông sản sau thu hoạch. |
|
Ghi nhận và đo lường |
|
| Các chi phí thực tế liên quan đến phát triển tài sản sinh học được ghi nhận là nguyên giá theo VAS 02 hoặc VAS 16. | Tài sản sinh học được đo lường theo giá trị ban đầu và vào cuối mỗi kỳ báo cáo được đo lường theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán, trừ trường hợp giá trị hợp lý không thể đo lường được một cách đáng tin cậy. Chi phí để bán bao gồm hoa hồng, tiền thuế và thuế chuyển nhượng và các
nghĩa vụ khác. Sản phẩm nông nghiệp được thu hoạch từ tài sản sinh học của một doanh nghiệp sẽ được đo lường theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán tại thời điểm thu hoạch. |
|
Đo lường giá trị hợp lý |
|
| Lãi/Lỗ không được ghi nhận cho đến khi bán tài sản sinh học/nông sản. | Lãi hoặc lỗ phát sinh khi ghi nhận ban đầu tài sản sinh học theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán và từ sự thay đổi giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán tài sản sinh học được ghi nhận vào lãi hoặc lỗ cho kỳ phát sinh tài sản đó.
Sản phẩm nông nghiệp thu hoạch từ tài sản sinh học được đo lường theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí ước tính để bán tại thời điểm thu hoạch. Lãi hoặc lỗ phát sinh theo ghi nhận ban đầu của nông sản theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán được ghi nhận vào lãi hoặc lỗ của kỳ phát sinh. |
Các lưu ý khi chuyển đổi sang báo cáo tài chính theo IFRS:
Khi chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS, doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề sau đây:
1. VAS không cho phép ghi nhận theo giá trị hợp lý, do đó, giá trị doanh nghiệp có thể bị đánh giá thấp hơn nếu doanh nghiệp nắm giữ một số lượng đáng kể tài sản sinh học và nông sản (sản phẩm từ thu hoạch tài sản sinh học). Doanh nghiệp cần thực hiện kiểm kê các tài sản sinh học tại ngày chuyển đổi sang IFRS và ghi nhận tài sản sinh học theo giá trị hợp lý tại ngày chuyển đổi.
2. Giá trị hợp lý phải được xác định hàng năm, do đó thông tin từ thị trường năng động và các thông tin khác cần được duy trì đầy đủ và đáng tin cậy.
3. Do phạm vi của IAS 41 chỉ được áp dụng trước và tại thời điểm thu hoạch và không bao gồm quá trình chế biến nông sản sau thu hoạch, doanh nghiệp cần xây dựng một hệ thống kế toán phù hợp để tách biệt các chi phí liên quan cho từng giai đoạn sản xuất.
Hàng tồn kho bao gồm các tài sản: (i) được giữ để bán trong chu kỳ kinh doanh thông thường, (ii) trong quá trình sản xuất; hoặc (iii) dưới dạng nguyên liệu hoặc vật tư được tiêu thụ trong quá trình sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ. Hàng tồn kho được điều chỉnh theo các hướng dẫn sau:
Những khác biệt chính giữa VAS và IFRS:
| VAS | IFRS |
| Phạm vi | |
| Tất cả các tài sản được giữ để bán trong chu kỳ kinh doanh thông thường được phân loại là hàng tồn kho, bao gồm: tài sản sinh học, khoáng sản và các sản phẩm từ khoáng sản, v.v. | IAS 02 không áp dụng đối với hàng tồn kho của người sản xuất nông lâm sản, nông sản sau thu hoạch, khoáng sản và các sản phẩm từ khoáng sản và thương nhân môi giới hàng hóa nắm giữ theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán hàng. |
| Tài sản có giá trị thấp (nguyên giá dưới 30 triệu VNĐ), như phụ tùng, thiết bị bảo dưỡng tồn kho được ghi nhận là hàng tồn kho. | Tài sản có giá trị thấp, phụ tùng, thiết bị bảo dưỡng thay thế cho mục đích liên quan đến nhà xưởng, thiết bị, thì được ghi nhận là PPE. |
|
Ghi nhận ban đầu |
|
| Sản phẩm nông nghiệp mà doanh nghiệp thu hoạch được từ tài sản sinh học của doanh nghiệp được ghi nhận theo chi phí sản xuất thực tế. | Sản phẩm nông nghiệp mà doanh nghiệp thu hoạch được từ tài sản sinh học của mình được đo lường và ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý trừ đi chi phí bán tại thời điểm thu hoạch. Đây là giá gốc của hàng tồn kho tại thời điểm áp dụng chuẩn mực này. |
|
Các phương pháp tính giá thành |
|
| VAS không đề cập đến việc áp dụng các phương pháp tính giá thành khác nhau cho các nhóm hàng tồn kho có đặc điểm khác nhau. | Doanh nghiệp sử dụng cùng một phương pháp tính giá thành cho tất cả hàng tồn kho có các đặc điểm giống nhau về bản chất và mục đích sử dụng của doanh nghiệp.
Đối với các nhóm hàng tồn kho có các đặc điểm khác nhau, doanh nghiệp có thể áp dụng các phương pháp tính giá thành khác nhau. |
Các lưu ý khi chuyển đổi sang báo cáo tài chính theo IFRS:
Khi chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS, doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề sau đây:
1. Các công cụ và phụ tùng thay thế chưa sử dụng phải được phân loại là PPE nếu doanh nghiệp không nắm giữ với mục đích để bán. Tương tự, các tài sản có giá trị thấp thuộc chi phí trả trước cũng được phân loại là PPE và được kế toán theo IAS 16.
2. Do một số hàng tồn kho theo VAS không thuộc phạm vi điều chỉnh của IAS 02, doanh nghiệp nên rà soát tất cả danh mục hàng tồn kho và áp dụng IFRS một cách phù hợp, nếu được yêu cầu.
IFRS 9 Công cụ tài chính hướng dẫn phân loại và xác định giá trị các công cụ tài chính và IAS 32 Công cụ tài chính: Trình bày hướng dẫn cách trình bày thông tin.
Tài sản tài chính bao gồm: tiền; quyền theo hợp đồng để nhận tiền hoặc tài sản tài chính khác (ví dụ: khoản phải thu và cho vay); công cụ vốn của đơn vị khác; và các tài sản khác thuộc phạm vi điều chỉnh của chuẩn mực này.
Ngoài Thông tư 210 với hướng dẫn trình bày và thuyết minh công cụ tài chính theo IFRS, VAS không có chuẩn mực kế toán tương đương hoặc hướng dẫn cụ thể cho tài sản là công cụ tài chính. Bảng dưới đây, trình bày một số nguyên tắc kế toán hiện hành theo VAS cho một số khoản mục phổ biến, cho mục đích tham khảo.
| VAS | IFRS |
| Xác định giá trị khi ghi nhận ban đầu | |
| Hầu hết các tài sản tương đương theo VAS được xác định giá trị ban đầu theo giá gốc. | Khi ghi nhận ban đầu, tài sản tài chính được đánh giá theo giá trị hợp lý cộng thêm hoặc trừ đi, trong trường hợp tài sản tài chính không ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua lãi lỗ, các chi phí giao dịch liên quan trực tiếp đến giao dịch mua hoặc phát hành tài sản tài chính. |
|
Phân loại và xác định giá trị sau khi ghi nhận ban đầu |
|
| Phân loại được dựa trên bản chất của khoản mục,như: tiền, các khoản phải thu và cho vay, các khoản đầu tư tài chính và các khoản đầu tư khác. | Phần lớn các tài sản tài chính được phân loại theo: (i) giá trị phân bổ, (ii) giá trị hợp lý ghi nhận vào báo cáo thu nhập toàn diện khác (“FVTOCI”), hoặc (iii) giá trị hợp lý ghi nhận theo lãi hoặc lỗ (“FVTPL”), dựa trên đồng thời hai cơ sở sau:
∙ Mô hình kinh doanh của doanh nghiệp để quản trị tài sản tài chính, và; ∙ Các đặc điểm về dòng tiền theo hợp đồng của tài sản tài chính. Việc phân loại tài sản tài chính cần được thực hiện ngay khi tài sản tài chính được ghi nhận ban đầu, cụ thể, khi doanh nghiệp trở thành một bên tham gia vào các điều khoản hợp đồng của công cụ tài chính đó. Tài sản tài chính được ghi nhận theo giá trị phân bổ khi: ∙ Mục tiêu mô hình kinh doanh của doanh nghiệp là nắm giữ tài sản để thu các dòng tiền phát sinh từ hợp đồng, và ∙ Điều khoản hợp đồng của tài sản tài chính quy định dòng tiền chỉ phát sinh từ các khoản thanh toán gốc và lãi tính trên số dư gốc. Tài sản tài chính được ghi nhận theo FVTOCI khi đồng thời thỏa mãn: ∙ Mục tiêu mô hình kinh doanh của doanh nghiệp là nắm giữa tài sản không chỉ để thu các dòng tiền phát sinh từ hợp đồng mà con để bán tài sản tài chính đó, và ∙ Điều khoản hợp đồng của tài sản tài chính quy định thời điểm cụ thể phát sinh các dòng tiền là các khoản thanh toán gốc và lãi tính trên số dư gốc. |
|
Lựa chọn giá trị hợp lý |
|
| Không áp dụng. | Doanh nghiệp có thể ghi nhận một tài sản tài chính theo FVTPL khi ghi nhận ban đầu nếu việc đó loại bỏ hoặc giảm đáng kể sự không nhất quán trong ghi nhận và đo lường giá trị phát sinh khi ghi nhận các tài sản và nợ phải trả hoặc khi lãi hoặc lỗ phát sinh từ các tài sản và nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo các cơ sở khác. |
|
Dừng ghi nhận tài sản tài chính |
|
| Không áp dụng. | Tài sản tài chính sẽ dừng ghi nhận khi và chỉ khi: (i) quyền theo hợp đồng về các dòng tiền từ tài sản tài chính hết hiệu lực hoặc (ii) doanh nghiệp chuyển nhượng tài sản tài chính và giao dịch thỏa mãn điều kiện dừng ghi nhận theo IFRS 9. |
|
Phân loại lại |
|
| Không áp dụng. | Đối với các công cụ nợ, doanh nghiệp phân loại lại tài sản theo FVTPL và tài sản theo giá trị phân bổ và ngược lại, khi và chỉ khi mục tiêu mô hình kinh doanh của các tài sản tài chính này thay đổi dẫn đến việc mô hình trước đây không còn phù hợp.
Nếu phù hợp, việc phân loại lại phải được thực hiện phi hồi tố tại thời điểm phân loại lại và không điều chỉnh hồi tố khoản lãi, lỗ hoặc lãi vay đã được ghi nhận trước đây. |
|
Công cụ vốn |
|
| Các khoản đầu tư hoặc các tài sản khác tương tự được ghi nhận theo phương pháp giá gốc. | Các khoản đầu tư công cụ vốn và hợp đồng liên quan thuộc phạm vi của IFRS 9 được xác định giá trị theo FVTPL, ngoại trừ các khoản đầu tư vốn mà doanh nghiệp đã lựa chọn kế toán các thay đổi về giá trị vào thu nhập toàn diện khác (“FVOCI”).
Mặc dù việc xác định giá trị hợp lý của các công cụ vốn là bắt buộc, trong một số ít trường hợp, giá vốn đầu tư có thể coi là ước tính phù hợp của giá trị hợp lý. |
|
Công cụ tài chính phái sinh |
|
| Không áp dụng. | Tất cả các công cụ tài chính phái sinh, bao gồm các khoản đầu tư vốn không được niêm yết, được đánh giá theo giá trị hợp lý. Những thay đổi về giá trị được ghi nhận vào lãi hoặc lỗ trừ khi doanh nghiệp sử dụng các công cụ tài chính phái sinh này cho mục đích công cụ phòng ngừa rủi ro theo IFRS 9. |
|
Công cụ phái sinh ngầm |
|
| Không áp dụng. | Công cụ phái sinh ngầm là một phần của hợp đồng hỗn hợp chứa cấu phần chính không phải công cụ phái sinh, mà sự ảnh hưởng đối với một số dòng tiền của công cụ hỗn hợp biến đổi như một công cụ phái sinh riêng biệt.
Nhìn chung, công cụ phái sinh ngầm được ghi nhận như một công cụ phái sinh, ngoại trừ các trường hợp mà hợp đồng chính không phải là tài sản thuộc phạm vị IFRS 9. |
|
Suy giảm giá trị |
|
| Dự phòng giảm giá của các tài sản tương đương được thực hiện theo Thông tư 48/2019 về trích lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư và các khoản nợ phải thu khó đòi.
|
Doanh nghiệp đánh giá suy giảm giá trị theo IFRS 9 cho các tài sản tài chính ghi nhận theo giá trị phân bổ hoặc theo FVTOCI. Đối với tài sản tài chính này, doanh nghiệp ghi nhận dự phòng tổn thất theo mô hình tổn thất tín dụng kỳ vọng (“ECL”).
Doanh nghiệp xác định ECL của công cụ tài chính để phản ánh: (a) giá trị bình quân các khả năng và khác quan được xác định dựa trên các khả năng có thể xảy ra; (b) giá trị thời gian của tiền; và (c) các thông tin liên quan hợp lý sẵn có mà không phát sinh nhiều chi phí hoặc nguồn lực tại ngày báo cáo về các sự kiện trong quá khứ, các điều kiện hiện tại và các dự đoán điều kiện kinh tế trong tương lai. |
Các lưu ý khi chuyển đổi báo cáo tài chính theo IFRS:
Khi chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS, doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề sau đây:
1. Giá trị phân bổ của các khoản phải thu hoặc cho vay ngắn hạn thông thường được xem là tương đương với giá trị ghi sổ.
2. Khi áp dụng IFRS 15, các khoản phải thu thương mại không chứa cấu phần tài chính đáng kể được ghi nhận ban đầu theo giá giao dịch.
3. Doanh nghiệp sử dụng lãi suất hiệu lực để tính toán giá trị phân bổ cho tài sản tài chính. Lãi suất này được dùng để chiết khấu các dòng tiền dự kiến liên quan đến công cụ tài chính trong suốt thời gian kỳ vọng của tài sản. Đặc biệt, đối với các khoản phải thu hoặc cho vay dài hạn không theo điều kiện thị trường (kể cả công nợ với bên liên quan), chênh lệch giữa giá trị ghi sổ và giá trị được phân bổ có thể phát sinh.
4. Doanh nghiệp được áp dụng phương pháp giản đơn khi tính toán dự phòng tổn thất cho các khoản phải thu (không chứa cấu phần tài chính đáng kể). Theo phương pháp này, dự phòng tổn thất sẽ bằng với dự phòng tổn thất tín dụng dự kiến toàn thời gian.
5. Các khoản đầu tư vào công cụ vốn thuộc phạm vị của IFRS 9 (ví dụ như cổ phiếu không niêm yết) được đánh giá theo giá trị hợp lý. Chênh lệch đáng kể giữa nguyên giá và giá trị hợp lý có thể phát sinh, theo đó doanh nghiệp phải xác định giá trị hợp lý kịp thời (tham khảo Đo lường giá trị hợp lý).
6. Các thỏa thuận cho vay chứa quyền chọn chuyển đổi thành vốn chủ sở hữu phải được đánh giá theo IFRS 9, theo đó, quyền chọn chuyển đổi được bao gồm trong việc xác định giá trị của toàn bộ hợp đồng.
3.1. Công cụ tài chính – Nợ phải trả
IFRS 9 Công cụ tài chính hướng dẫn phân loại và xác định giá trị các công cụ tài chính và IAS 32 Công cụ tài chính: Trình bày hướng dẫn cách trình bày thông tin.
Nợ phải trả tài chính bao gồm: (i) nghĩa vụ theo hợp đồng nhằm chuyển tiền hoặc tài sản tài chính khác sang doanh nghiệp khác hoặc để trao đổi các tài sản và nợ phải trả tài chính với doanh nghiệp khác theo các điều kiện bất lợi cho doanh nghiệp; hoặc (ii) một hợp đồng sẽ hoặc có thể được thanh toán bằng công cụ vốn của doanh nghiệp và thỏa mãn một số điều kiện nhất định khác.
Ngoài Thông tư 210 với hướng dẫn trình bày và thuyết minh công cụ tài chính theo IFRS, VAS không có chuẩn mực kế toán tương đương hoặc hướng dẫn cụ thể cho nợ phải trả là công cụ tài chính. Bảng dưới đây, trình bày một số nguyên tắc kế toán hiện hành theo VAS cho một số khoản mục phổ biến, cho mục đích tham khảo.
| VAS | IFRS |
| Ghi nhận ban đầu | |
| Hầu hết các khoản nợ phải trả tương đương theo VAS
được ghi nhận ban đầu theo giá gốc. |
Nợ phải trả tài chính được ghi nhận khi và chỉ khi doanh nghiệp trở thành một bên tham gia các điều khoản của hợp đồng của công cụ tài chính.
Khi ghi nhận ban đầu, nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý cộng thêm hoặc trừ đi, trong trường hợp nợ phải trả tài chính ghi nhận theo giá trị hợp lý thông qua lãi hoặc lỗ, các chi phí giao dịch liên quan trực tiếp đến giao dịch mua hoặc phát hành nợ phải trả tài chính. |
|
Phân loại và xác định giá trị sau khi ghi nhận ban đầu |
|
| Phân loại được dựa trên bản chất và tính thanh khoản của
khoản mục. |
Phân loại và xác định giá trị sau khi ghi nhận ban đầu của nợ phải trả tài chính như sau: ∙ Theo giá trị phân bổ sử dụng phương pháp lãi suất hiệu lực; hoặc ∙ Theo giá trị hợp lý ghi nhận vào báo cáo lãi hoặc lỗ (“FVTPL”).
Lãi hoặc lỗ từ nợ phải trả tài chính ghi nhận theo giá trị hợp lý được ghi nhận vào lãi hoặc lỗ trừ khi liên quan đến kế toán phòng ngừa rủi ro, đầu tư vào công cụ vốn mà doanh nghiệp lựa chọn ghi nhận lãi hoặc lỗ vào OCI, hoặc trong một số trường hợp khác. |
| Lựa chọn giá trị hợp lý | |
| Không áp dụng. | Doanh nghiệp có thể ghi nhận một khoản nợ phải trả tài chính theo FVTPL khi ghi nhận ban đầu nếu việc này ghi nhận loại bỏ hoặc giảm đáng kể sự không nhất quán trong ghi nhận hoặc xác định giá trị phát sinh khi nợ phải trả được ghi nhận hoặc lãi hay lỗ từ các khoản nợ phải trả tài chính này được ghi nhận theo các cơ sở khác. |
|
Phân loại lại |
|
| Không áp dụng. | Doanh nghiệp phân loại giữa nợ phải trả tài chính theo FVTPL và theo giá trị phân bổ và ngược lại khi và chỉ khi mục tiêu mô hình kinh doanh của doanh nghiệp đối với các khoản nợ phải trả này thay đổi dẫn đến việc phân loại trước đây không còn phù hợp. |
Các lưu ý khi chuyển đổi báo cáo tài chính theo IFRS:
Khi chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS, doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề sau đây:
1. Các khoản nợ phải trả tài chính phổ biến thường được ghi nhận theo giá trị phân bổ (bao gồm các khoản phải trả thương mại không có cấu phần tài chính đáng kể).
2. Khi áp dụng giá trị phân bổ, nợ phải trả tài chính được tính theo lãi suất hiệu lực (xem hướng dẫn tính toán chi tiết theo lãi suất hiệu lực đối với tài sản tài chính). Đặc biệt, đối với các khoản nợ phải trả tài chính dài hạn không theo điều kiện thị trường (kể cả công nợ với bên liên quan), chênh lệch giữa giá gốc và giá trị phân bổ có thể phát sinh.
3. Các hợp đồng vay chứa quyền chọn chuyển đổi thành vốn chủ sở hữu phải được đánh giá theo IFRS 9, theo đó, quyền chọn chuyển đổi được bao gồm trong việc xác định giá trị của toàn bộ hợp đồng.
Dự phòng là một khoản phải trả có thời gian hoặc số tiền không chắc chắn. Các khoản dự phòng được phân biệt với các khoản phải trả khác như các khoản phải trả người bán và các khoản trích trước do không chắc chắn về thời gian hoặc số tiền của khoản chi trong tương lai cần phải thanh toán. Các khoản dự phòng và nợ tiềm tàng được điều chỉnh bởi các hướng dẫn sau:
∙ VAS 18 Các khoản dự phòng, nợ phải trả và tài sản tiềm tàng và Thông tư 200 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam.
∙ IAS 37 Các khoản dự phòng, nợ phải trả và tài sản tiềm tàng.
Những khác biệt chính giữa VAS và IFRS:
| VAS | IFRS |
| Chi phí tháo dỡ và ghi nhận tiếp theo | |
| Theo Thông tư 200, khoản dự phòng chi phí tháo dỡ phải được ghi nhận vào chi phí. Thông tư không yêu cầu về việc soát xét lại khoản dự phòng này sau khi ghi nhận ban đầu. | Dự phòng chi phí tháo dỡ và di dời một tài sản và hoàn trả mặt bằng phải được ghi nhận theo IAS 37. Chi phí ước tính này là một thành phần của nguyên giá bất động sản, nhà xưởng và thiết bị liên quan theo IAS 16. Nếu có bất kỳ thay đổi nào sau đó về ước tính chi phí dự phòng, nguyên giá bất động sản, nhà xưởng và thiết bị sẽ được điều chỉnh phù hợp để phản ánh sự thay đổi này. |
| Quyền đối với khoản hoàn trả | |
| Số tiền hoàn trả được ghi nhận là Thu nhập khác khi nhận được tiền. | Trong một vài trường hợp, một bên khác có thể hoàn trả số tiền mà doanh nghiệp đã thanh toán đối với một khoản dự phòng hoặc thanh toán trực tiếp số tiền đó. Trong báo thu nhập toàn diện, khoản chi phí dự phòng sẽ được trình bày là giá trị thuần sau khi trừ đi khoản hoàn trả. |
| Thay đổi dự phòng | |
| Số tiền dự phòng trích lập thừa được hoàn nhập vào thu nhập khác. | Doanh nghiệp hoàn nhập dự phòng khi không còn khả năng tổn thất nguồn lực bao gồm những lợi ích kinh tế được yêu cầu để thanh toán nghĩa vụ. |
| Hợp đồng có rủi ro lớn | |
| Không có yêu cầu tương tự. | IFRS định nghĩa rằng “chi phí hoàn thành” một hợp đồng bao gồm (1) chi phí gia tăng để hoàn thành hợp đồng đó hoặc (2) phân bổ các chi phí khác liên quan trực tiếp đến việc hoàn thành hợp đồng. |
| Ảnh hưởng của luật ban hành | |
| Không có yêu cầu tương tự. | IAS 37 đưa ra các hướng dẫn để xác định nghĩa vụ theo một điều luật mới được đề xuất. Nghĩa vụ chỉ phát sinh khi quy định hầu như chắc chắn được ban hành như đã được soạn thảo. |
Các lưu ý khi chuyển đổi báo cáo tài chính theo IFRS:
Khi chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS, doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề sau đây:
1. Các trường hợp phổ biến cần được xem xét trong việc trích lập dự phòng là các khoản lỗ trong tương lai, hợp đồng có rủi ro lớn và tái cấu trúc. Doanh nghiệp cần xem xét cẩn trọng các tiêu chí đáp ứng điều kiện để trích lập dự phòng một cách hợp lý.
2. Dự phòng là một ước tính kế toán, do đó doanh nghiệp cần có những đánh giá phù hợp về các giả định đầu vào để tính toán ước tính.
3. Một số doanh nghiệp có nghĩa vụ theo hợp đồng phải tháo dỡ và hoàn trả mặt bằng, do đó, doanh nghiệp phải ước tính các chi phí này để ghi nhận các khoản dự phòng và nguyên giá của bất động sản, nhà xưởng và thiết bị liên quan;
4. Các vấn đề khác cần phải xem xét như như xác định các hợp đồng có rủi ro lớn và quy định pháp luật mới.
Thuê bao gồm thuê hoạt động và thuê tài chính được điều chỉnh theo các hướng dẫn sau:
∙ VAS 6 Thuê và Thông tư 200 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam. ∙ IFRS 16 Thuê. Theo IFRS 16, cả thuê hoạt động và thuê tài chính đều phải ghi nhận quyền sử dụng tài sản và nghĩa vụ thanh toán tiền thuê tương ứng.
Những khác biệt chính giữa VAS và IFRS:
| VAS | IFRS |
| Ghi nhận ban đầu | |
| Bên thuê hoạt động chỉ ghi nhận tiền thuê định kỳ như một khoản chi phí.
Bên thuê tài chính phải ghi nhận tài sản cho thuê tài chính và nợ thuê tài chính tương ứng. |
Doanh nghiệp tham gia hợp đồng thuê phải ghi nhận quyền sử dụng tài sản và nghĩa vụ thanh toán tiền thuê tương ứng.
Quyền sử dụng tài sản được xác định bằng nghĩa vụ thuê cộng với chi phí trực tiếp ban đầu mà bên thuê phải chịu (nghĩa vụ thuê, chi phí trực tiếp ban đầu, chi phí ước tính để tháo dỡ, các khoản thanh toán trừ đi các ưu đãi trước ngày bắt đầu hợp đồng thuê). Nghĩa vụ thanh toán tiền thuê được xác định bằng giá trị hiện tại của tất cả các khoản thanh toán tiền thuê trong tương lai được chiết khấu theo lãi suất hiệu lực. |
|
Ghi nhận tiếp theo |
|
| Thuê hoạt động: không có quy định.
Thuê tài chính: tương tự IFRS ngoại trừ việc xem xét lỗ do suy giảm giá trị với tài sản thuê tài chính và đo lường lại các khoản nợ thuê tài chính. |
Quyền sử dụng tài sản được xác định theo phương pháp giá gốc (nguyên giá trừ khấu hao lũy kế và lỗ do suy giảm giá trị).
Nghĩa vụ thanh toán tiền thuê được xác định bằng việc ghi tăng giá trị ghi sổ để phản ánh lãi của nghĩa vụ thuê, giảm giá trị ghi sổ để phản ánh các khoản tiền thuê đã thanh toán và xác định lại giá trị ghi sổ để phản ánh các khoản đánh giá lại hoặc sửa đổi hợp đồng thuê hoặc phản ánh các khoản thanh toán tiền thuê cố định đã được sửa đổi. |
|
Các trường hợp miễn áp dụng tùy chọn – Đơn giản hóa kế toán |
|
| Không có điều khoản miễn trừ tùy chọn theo VAS. | IFRS 16 đưa ra các trường hợp miễn áp dụng quan trọng đối với (i) các hợp đồng thuê ngắn hạn (thời hạn thuê dưới 12 tháng) và (ii) các hợp đồng thuê tài sản có giá trị thấp.
Nếu các trường hợp miễn áp dụng được sử dụng, các khoản thanh toán thuê hoạt động được ghi nhận là chi phí theo phương pháp đường thẳng theo thời hạn thuê hoặc theo một cơ sở khác. Bên thuê có thể lựa chọn không cần phải xác định các khoản hỗ trợ do ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 có phải là một khoản sửa đổi hợp đồng thuê tài sản hay không. |
Các lưu ý khi chuyển đổi báo cáo tài chính theo IFRS:
Khi chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS, doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề sau đây:
1. Doanh nghiệp cần lưu giữ bảng tổng hợp các hợp đồng thuê, bao gồm cả thuê hoạt động và thuê tài chính, với đầy đủ thông tin để ghi nhận quyền sử dụng tài sản và nghĩa vụ thanh toán tiền thuê.
2. Doanh nghiệp nên rà soát các điều khoản tại các thỏa thuận vì có thể chứa các điều khoản thuê.
3. Doanh nghiệp nên xem xét áp dụng các trường hợp miễn áp dụng tùy chọn đối với các hợp đồng thuê tài sản ngắn hạn và giá trị thấp để đơn giản hóa việc xử lý kế toán đối với các khoản mục thuê tài sản.
4. Quyền sử dụng tài sản cần được kiểm tra mức độ suy giảm giá trị khi có các dấu hiệu suy giảm theo IAS 36.
>>>> Tham khảo: Khoá học DipIFR – Chứng chỉ lập Báo cáo Tài chính quốc tế (Level 2)
4.1. Doanh thu
Doanh thu là một trong những khoản mục quan trọng và trọng yếu nhất trên báo cáo tài chính. Do tính đa dạng của doanh thu và các khoản mục khác liên quan, các chuẩn mực kế toán hiện hành đưa ra các nguyên tắc chung cùng hướng dẫn cụ thể về ghi nhận doanh thu cũng như các đánh giá khác liên quan thông qua các hướng dẫn sau:
∙ VAS 14 Doanh thu và thu nhập khác, VAS 15 Hợp đồng xây dựng và Thông tư 200 hướng dẫn thực hiện chế độ kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam.
∙ IFRS 15 Doanh thu từ hợp đồng với khách hàng.
Những khác biệt chính giữa VAS và IFRS:
| VAS | IFRS |
| Phạm vi điều chỉnh | |
| Không có quy định tương tự trong VAS.
Doanh thu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được ghi nhận khi đáp ứng các điều kiện sau:
|
Một hợp đồng với khách hàng thuộc phạm vi của IFRS 15 cần đáp ứng đồng thời năm (5) điều kiện sau:
|
| Ghi nhận doanh thu | |
| Theo VAS, điều kiện chính để ghi nhận doanh thu là khi phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa hoặc dịch vụ được chuyển giao cho người mua, đồng thời, giá vốn có thể xác định được.
Doanh thu không được ghi nhận nếu tồn tại những yếu tố không chắc chắn trong yếu liên quan đến thu tiền hoặc khả năng hàng hóa hoặc dịch vụ bị trả lại. VAS không đưa ra các yêu cầu riêng trong xác định tách biệt các nghĩa vụ thực hiện và phân bổ giá trị hợp đồng khi ghi nhận doanh thu. |
Nguyên tắc chính yêu cầu một doanh nghiệp khi ghi nhận doanh thu đó là xác định việc chuyển giao hàng hóa hoặc dịch vụ đã cam kết cho khách hàng với giá trị tương ứng khoản thanh toán mà doanh nghiệp kỳ vọng được quyền thu về khi cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ kể trên.
Để áp dụng nguyên tắc này, doanh nghiệp cần thực hiện năm bước sau:
|
| Hướng dẫn đặc thù | |
| VAS đưa ra hướng dẫn ghi nhận doanh thu cho một số trường hợp/khoản mục đặc thù:
– Phân bổ doanh thu cho sản phẩm miễn phí cho trường hợp hợp đồng kinh tế nhiều giao dịch; – Doanh thu chưa thực hiện đối với khách hàng thuộc chương trình khách hàng truyền thống; và – Hợp đồng xây dựng với yêu cầu tiến độ thanh toán và/hoặc tiến độ thi công được chấp thuận bởi chủ đầu tư. Đối với các hướng dẫn đặc thù được trình bày trong IFRS 15, VAS không đưa ra các hướnng dẫn nào tương đương. |
IFRS 15 đưa ra hướng dẫn ghi nhận doanh thu cho một số khoản mục/trường hợp đặc thù như sau:
– Nghĩa vụ thực hiện thỏa mãn theo giai đoạn và/hoặc theo thời điểm với phương pháp xác định giá trị; – Xác định tài sản và/hoặc nợ phát sinh từ hợp đồng; – Hợp đồng với quyền và/hoặc lựa chọn trả lại và/hoặc mua thêm hàng hóa/dịch vụ; – Hợp đồng với nghĩa vụ bảo hành; – Các thỏa thuận đặc thù như mua lại, ký gửi, tạm giữ hàng hóa sau khi xuất hóa đơn, v.v.; – Xem xét về bên ủy thác và bên nhận ủy thác (đại lý). |
| Thuyết minh | |
| VAS chú trọng thuyết minh chính sách kế toán về ghi nhận doanh thu và chi tiết doanh thu theo đối tượng. | IFRS chú trọng thuyết minh thông tin của các hợp đồng với khách hàng và các nguyên tắc ghi nhận doanh thu tương ứng; các ước tính kế toán quan trọng liên quan đến hợp đồng với khách hàng, tài sản phát sinh từ hợp đồng, nợ phải trả phát sinh từ hợp đồng và các vấn đề khác. |
Các lưu ý khi chuyển đổi báo cáo tài chính theo IFRS:
Doanh nghiệp áp dụng mô hình 5 bước khi ghi nhận doanh thu trong quá trình chuyển đổi IFRS như sau:
– Bước 1: Xác định (các) hợp đồng với khách hàng:
“Hợp đồng” được định nghĩa là “một thỏa thuận (pháp lý, miệng hoặc ngầm định) giữa hai hoặc nhiều bên tạo ra các quyền và nghĩa vụ thực hiện” được thực hiện theo các thông lệ kinh doanh thông thường của doanh nghiệp với mô hình kinh doanh chung áp dụng khi hoặc nếu hợp đồng bao hàm bản chất thương mại, sự chấp thuận cho các bên, quyền của mỗi bên và điều khoản thanh toán đối với hàng hóa/dịch vụ được chuyển giao và khả năng thu được khoản thanh toán. Hợp đồng không tồn tại nếu mỗi bên có quyền chấm dứt hợp đồng chưa thực hiện mà không phải bồi thường cho bên kia. Nếu hợp đồng với khách hàng không đáp ứng các điều kiện này, doanh thu chỉ được ghi nhận khi nghĩa vụ thực hiện đã hoàn thành với khoản thanh toán đã thu được theo thỏa thuận không phải hoàn lại.
– Bước 2: Xác định các nghĩa vụ thực hiện trong hợp đồng
Với hợp đồng đã được xác định, tiếp theo, doanh nghiệp xác định các nghĩa vụ thực hiện trong hợp đồng. Một nghĩa vụ thực hiện là một cam kết trong hợp đồng với khách hàng để chuyển giao đồng thời (1) hàng hóa hoặc dịch vụ, hoặc một gói gồm nhiều hàng hóa hoặc dịch vụ (‘tách biệt’); hoặc (2) một chuỗi các hàng hóa hoặc dịch vụ tách biệt thỏa mãn các điều kiện xác định. Thời điểm ghi nhận doanh thu được dựa trên sự hoàn thành các nghĩa vụ thực hiện thay vì tổng thể toàn bộ hợp đồng.
– Bước 3: Xác định giá giao dịch
“Giá giao dịch” được định nghĩa là phần giá trị thanh toán mà doanh nghiệp kỳ vọng nhận được khi cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ đã cam kết theo hợp đồng, nhưng không bao gồm phần thanh toán thu hộ các bên thứ ba (ví dụ, thuế gián thu trên doanh thu). Doanh nghiệp phải xem xét ảnh hưởng của những nhân tố sau đây khi xác định giá giao dịch: khoản thanh toán biến đổi, các điều kiện hạn chế của khoản thanh toán biến đổi, giá trị thời gian của tiền, khoản thanh toán không bằng tiền và khoản thanh toán phải trả cho khách hàng.
– Bước 4: Phân bổ giá giao dịch cho từng nghĩa vụ thực hiện trong hợp đồng
Đối với hợp đồng tồn tại nhiều hơn một nghĩa vụ thực hiện, doanh nghiệp cần phân bổ riêng biệt giá giao dịch cho mỗi nghĩa vụ thực hiện theo cơ sở giá bán riêng lẻ liên quan, khi bắt đầu hợp đồng. Giá bán riêng lẻ có thể tham khảo từ giá bán mà doanh nghiệp yêu cầu khách hàng tương tự phải thanh toán trong điều kiện tương tự khi bán riêng lẻ từng sản phẩm hoặc dịch vụ; hoặc nếu không thể tham khảo, là một ước tính từ các thông tin hợp lý sẵn có. Ba phương pháp phù hợp để ước tính giá bán riêng lẽ được đề xuất bao gồm: giá thị trường có điều chỉnh, giá vốn cộng lợi nhuận kỳ vọng và giá trị còn lại.
– Bước 5: Ghi nhận doanh thu tương ứng khi doanh nghiệp hoàn thành mỗi nghĩa vụ thực hiện
Doanh nghiệp ghi nhận doanh thu theo thời điểm, trừ khi doanh nghiệp đáp ứng đủ ba điều kiện để ghi nhận doanh thu theo thời gian như sau:
+ Phần việc hoàn thành tạo ra hoặc làm gia tăng giá trị của một tài sản được kiểm soát bởi khách hàng;
+ Khách hàng đồng thời tiếp nhận và sử dụng được lợi ích từ phần việc đã thực hiện;
+ Doanh nghiệp không tạo ra tài sản có thể sử dụng cho mục đích khác và doanh nghiệp có quyền được thanh toán cho phần việc đã làm theo tiến độ.
Chi phí đi vay (các chi phí liên quan đến một khoản vay) là một yếu tố chi phí lớn của đơn vị. Chi phí đi vay có thể được vốn hóa hoặc ghi nhận vào báo cáo lãi lỗ tuân thủ theo các quy định kế toán hiện hành. Các chuẩn mực kế toán sau đây đưa ra hướng dẫn cho loại chi phí này:
∙ VAS 16 Chi phí đi vay và Thông tư 200 hướng dẫn thực hiện chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam. ∙ IAS 23 Chi phí đi vay.
Những khác biệt chính giữa VAS và IFRS:
| VAS | IFRS |
| Thuật ngữ và phạm vi | |
| VAS không yêu cầu chi phí lãi vay tính theo phương pháp lãi suất hiệu lực và ảnh hưởng của chênh lệch tỷ giá khi ghi nhận chi phí đi vay. | Chi phí đi vay được hiểu rộng hơn lãi vay nên còn bao gồm:
– Chi phí lãi vay tính theo phương pháp lãi suất hiệu lực – Chênh lệch tỷ giá phát sinh từ các khoản vay có gốc ngoại tệ mà ảnh hưởng được điều chỉnh đến chi phí lãi vay. |
| Vốn hóa chi phí đi vay | |
| Tài sản dở dang là tài sản đang trong quá trình đầu tư xây dựng và đang trong quá trình sản xuất cần có một thời gian đủ dài (trên 12 tháng) để có thể đưa vào sử dụng theo mục đích định trước hoặc để bán. Theo VAS, đối với tài sản cố định và bất động sản đầu tư đang xây dựng, thời gian xây dựng có thể thấp hơn 12 tháng. | Tài sản đủ điều kiện là tài sản đang trong quá trình đầu tư xây dựng hoặc sản xuất cần một thời gian đủ dài để có thể đưa vào sử dụng theo mục đích định trước hoặc để bán, như hàng tồn kho, bất động sản, nhà xưởng và thiết bị, tài sản cố định vô hình, bất động sản đầu tư và cây lâu năm cho sản phẩm. |
| Không có quy định tương ứng theo VAS. | Chi phí đi vay không được vốn hóa cho tài sản đủ điều kiện được xác định giá trị theo phương pháp giá trị hợp lý. |
| Không có quy định tương ứng theo VAS. | Trong một số trường hợp, khi tính bình quân gia quyền các chi phí đi vay, doanh nghiệp cần tập hợp tất cả các khoản vay từ công ty mẹ và các công ty con; ngoài ra, với mỗi công ty con, bình quân gia quyền chi phí đi vay chỉ phù hợp với các khoản vay của chính công ty con. |
| Không có quy định tương ứng theo VAS. | Chi phí đi vay sẽ được vốn hóa nếu giá trị ghi sổ hoặc nguyên giá ước tính của tài sản đủ điều kiện vốn hóa lãi vay không vượt quá giá trị có thể thu hồi hoặc giá trị thuần có thể thực hiện được của tài sản đó. |
Các lưu ý khi chuyển đổi báo cáo tài chính theo IFRS:
Khi chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS, doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề sau đây:
1. Để vốn hóa chi phí đi vay vào nguyên giá tài sản một cách phù hợp, doanh nghiệp nên đánh giá lại hai điểm chính sau:
– Tài sản thỏa mãn điều kiện vốn hóa theo IAS 23;
– Các chi phí, bao gồm chênh lệch tỷ giả hối đoái, thỏa mãn phạm vi của chi phí đi vay theo IAS 23.
2. Trong một số trường hợp, các khoản vay vốn có thể có lãi suất ưu đãi (thấp hơn lãi suất thị trường, như khoản vay từ công ty mẹ). Doanh nghiệp phải xác định giá trị khoản vay theo phương pháp giá trị phân bổ sử dụng lãi suất hiệu lực. Bất kỳ chênh lệch nào giữa lãi suất hợp đồng vào lãi suất thực cần được điều chỉnh vào chi phí tài chính theo IFRS 9.
Chênh lệch tỷ giá hối đoái có thể phát sinh từ các giao dịch bằng ngoại tệ, các hoạt động nước ngoài trong báo cáo tài chính, và báo cáo tài chính chuyển đổi đồng tiền báo cáo, mà phương pháp kế toán được trình bày trong:
∙ VAS 10 Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái, Thông tư 200 hướng dẫn thực hiện chế độ kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam và các sửa đổi, bổ sung liên quan theo Thông tư 75/2015/TT-BTC và Thông tư 53/2016/TT-BTC.
∙ IAS 21 Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái.
Những khác biệt chính giữa VAS và IFRS:
| VAS | IFRS |
| Thuật ngữ | |
| Đơn vị tiền tệ kế toán là đơn vị tiền tệ được sử dụng chính thức trong việc ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính. Theo VAS, Việt Nam đồng là đơn vị tiền tệ kế toán mặc định. | Đồng tiền báo cáo là đơn vị tiền tệ được sử dụng để trình bày báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính được lập theo đồng tiền chức năng của doanh nghiệp nhưng có thể trình bày theo bất kỳ đơn vị tiền tệ nào. |
| Không có quy định về xác định đồng tiền chức năng, tuy nhiên khi doanh thu và chi phí phát sinh chủ yếu bằng ngoại tệ, doanh nghiệp được quyền lựa chọn ngoại tệ đó là đơn vị tiền tệ kế toán. | Đồng tiền chức năng là đơn vị tiền tệ của môi trường kinh tế chủ yếu mà doanh nghiệp hoạt động. |
| Ghi nhận ban đầu | |
| Khi ghi nhận ban đầu các giao dịch bằng ngoại tệ, doanh nghiệp có thể áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế mua/bán tại ngày phát sinh giao dịch dựa trên bản chất của giao dịch. | Một giao dịch bằng ngoại tệ được ghi nhận ban đầu theo đồng tiền chức năng bằng cách quy đổi theo tỷ giá hối đoái giao ngay của lượng ngoại tệ đó tại ngày phát sinh giao dịch. |
| Đánh giá lại cuối kỳ | |
| Doanh nghiệp phải đánh giá lại chênh lệch tỷ giá của các khoản mục tiền có gốc ngoại tệ. Dựa trên bản chất của khoản mục, doanh nghiệp có thể áp dụng tỷ giá giao dịch thực tế mua/bán tại thời điểm cuối kỳ. | Khi kết thúc mỗi kỳ báo cáo, khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được chuyển đổi theo tỷ giá hối đoái cuối kỳ. IFRS không quy định chi tiết về tỷ giá hối đối đoái cuối kỳ được sử dụng để đánh giá lại. |
| Ghi nhận chênh lệch tỷ giá hối đoái | |
| Không áp dụng đối với các khoản mục phi tiền tệ. | Khi lãi hoặc lỗ của khoản mục phi tiền tệ (xác định theo giá trị hợp lý) được ghi nhận vào Thu nhập toàn diện khác (“OCI”) hoặc báo cáo lãi hoặc lỗ, bất kỳ cấu phần lãi hoặc lỗ về tỷ giá nào cũng sẽ được ghi nhận tương ứng vào OCI hoặc báo cáo lãi hoặc lỗ. |
| Chuyển đổi báo cáo tài chính | |
| Toàn bộ chênh lệch tỷ giá phát sinh từ chuyển đổi báo cáo tài chính được theo dõi lũy kế trên Chênh lệch tỷ giá hối đoái thuộc vốn chủ sở hữu. | Toàn bộ chênh lệch tỷ giá phát sinh từ chuyển đổi đồng tiền báo cáo được ghi nhận vào OCI. |
Các lưu ý khi chuyển đổi báo cáo tài chính theo IFRS:
Khi chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS, doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề sau đây:
1. Khi lập báo cáo tài chính, mỗi doanh nghiệp (cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có hoạt động ở nước ngoài) cần xác định đồng tiền chức năng và chuyển đổi các khoản mục có gốc ngoại tệ về đồng tiền chức năng, đồng thời phản ánh ảnh hưởng của việc chuyển đổi này.
2. Biến động và số dư các khoản mục trên báo cáo tài chính của bất kỳ doanh nghiệp đơn lẻ nào trong báo cáo tập đoàn mà đồng tiền chức năng của đơn vị khác với đồng tiền báo cáo đều cần được chuyển đổi. Chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh từ chuyển đổi đơn vị tiền tệ kế toán theo VAS phải được đánh giá và trình bày trên OCI.
Các chi phí của người lao động được quy định trong IAS 19 Phúc lợi của người lao động bao gồm các quy định về hạch toán các phúc lợi của người lao động. Phúc lợi của người lao động là các khoản phúc lợi từ doanh nghiệp để đổi lấy dịch vụ mà người lao động cung cấp hoặc cho việc chấm dứt hợp đồng lao động.
Phúc lợi của người lao động có thể bao gồm: (i) các phúc lợi ngắn hạn cho người lao động như tiền lương và tiền công, tiền thưởng và trợ cấp; (ii) các lợi ích sau khi nghỉ việc như trợ cấp hưu trí; (iii) các phúc lợi dài hạn khác cho người lao động, như nghỉ phép dành cho người có thâm niên công tác hoặc nghỉ lễ kỷ niệm hoặc các loại phúc lợi khác dành cho người có thâm niên công tác lâu năm; và (iv) phúc lợi khi thôi việc.
Đôi khi, phúc lợi của người lao động có thể được kết hợp với các giao dịch thanh toán trên cơ sở cổ phiếu được đề cập trong IFRS 2 Thanh toán trên cơ sở cổ phiếu. Phạm vi điều chỉnh của chuẩn mực này bao gồm các giao dịch sau: (i) các giao dịch thanh toán trên cổ phiếu được chi trả bằng công cụ vốn (ii) các giao dịch thanh toán trên cơ sở cổ phiếu được chi trả bằng tiền và (iii) các giao dịch thanh toán bằng công cụ vốn hoặc chi trả bằng tiền.
VAS không có các chuẩn mực tương đương cho các chi phí của người lao động hoặc các khoản thanh toán trên cơ sở cổ phiếu. Nguyên tắc kế toán ghi nhận các chi phí của người lao động trên cơ sở dồn tích khi doanh nghiệp phát sinh nghĩa vụ hiện tại dựa trên kết quả của một sự kiện trong quá khứ.
Bảng dưới đây chỉ ra những khác biệt chính trong xử lý kế toán giữa VAS và IFRS đối với một số khoản mục khi áp dụng.
| VAS | IFRS |
| Phúc lợi sau khi nghỉ việc: Phúc lợi với mức đóng góp xác định và Phúc lợi với mức phúc lợi xác định | |
| Không có phân loại tương đương.
Các khoản nợ tương tự thường được xác định theo giá trị danh nghĩa. Chi phí hưu trí được ghi nhận khi phát sinh. Không có hướng dẫn tương tự về việc ghi nhận nợ phải trả. Chi phí phúc lợi được ghi nhận khi phát sinh |
Phúc lợi sau khi nghỉ việc là các khoản phải chi trả sau khi chấm dứt hợp đồng lao động, bao gồm Quỹ phúc lợi với mức đóng góp xác định (DCP) hoặc Quỹ phúc lợi với mức phúc lợi xác định (DBP).
Quỹ phúc lợi với mức đóng góp xác định là quỹ phúc lợi sau khi nghỉ việc mà nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp chỉ giới hạn ở số tiền cam kết đóng góp vào quỹ. Theo đó, các khoản đóng góp của doanh nghiệp là cố định và thanh toán phúc lợi có thể thay đổi. Về bản chất, rủi ro dựa trên mô hình thống kê và rủi ro đầu tư thuộc về người lao động chứ không thuộc về doanh nghiệp. ∙ Doanh nghiệp ghi nhận một khoản phải trả vào DCP khi người lao động đã làm việc cho doanh nghiệp trong một kỳ kế toán. ∙ Khi các khoản đóng góp dự kiến không được thanh toán toàn bộ trong vòng 12 tháng sau khi kết thúc kỳ báo cáo năm mà người lao động đã thực hiện các công việc cho doanh nghiệp, số tiền đóng góp được chiết khấu theo lãi suất của trái phiếu doanh nghiệp chất lượng cao vào cuối kỳ báo cáo. Quỹ phúc lợi với mức phúc lợi xác định khác với quỹ phúc lợi với mức đóng góp xác định, nghĩa là các khoản đóng góp của chủ doanh nghiệp được thay đổi và việc chi trả các khoản phúc lợi cho người lao động được cam kết. Theo đó, nghĩa vụ của doanh nghiệp là thanh toán các lợi ích đã thỏa thuận cho người lao động cũ và hiện tại. Về bản chất, rủi ro dựa trên mô hình thống kê (mà phúc lợi sẽ có giá trị cao hơn dự kiến) và rủi ro đầu tư thuộc về doanh nghiệp. ∙ Doanh nghiệp ghi nhận nợ phải trả (tài sản) phúc lợi xác định – thuần trên bảng cân đối kế toán bằng cách xác định giá trị hiện tại của nghĩa vụ phúc lợi xác định trong tương lai và trừ đi giá trị hợp lý của bất kỳ tài sản quỹ phúc lợi nào. ∙ Nghĩa vụ phúc lợi xác định trong tương lai phải được ước tính bằng kỹ thuật thống kê và được chiết khấu theo giá trị hiện tại và chi phí dịch vụ hiện tại. ∙ Giá trị hiện tại của phúc lợi trong tương lai được chiết khấu sẽ phát sinh lãi theo thời gian nên chi phí đi vay phải được ghi nhận. ∙ Khi doanh nghiệp có thặng dư từ quỹ phúc lợi với mức phúc lợi xác định, giá trị tài sản phúc lợi thuần được xác định ở mức thấp hơn giữa: + thặng dư trong quỹ phúc lợi với mức phúc lợi xác định; và + mức trần tài sản. |
| Phúc lợi dài hạn khác cho người lao động | |
| Các khoản nợ tương tự thường được xác định theo giá trị danh nghĩa. | Phúc lợi dài hạn khác cho người lao động là toàn bộ phúc lợi cho người lao động khác với phúc lợi ngắn hạn khác cho người lao động như phúc lợi sau khi nghỉ việc và phúc lợi khi chấm dứt hợp đồng.
Dựa trên bản chất của phúc lợi dài hạn của người lao động, IAS 19 áp dụng phương pháp kế toán đơn giản, ví dụ: một doanh nghiệp có thể áp dụng các yêu cầu tương tự như với Quỹ phúc lợi với mức phúc lợi xác định. |
| Phúc lợi khi chấm dứt hợp đồng | |
| Các khoản nợ tương tự thường được xác định theo giá trị danh nghĩa. | Phúc lợi khi chấm dứt hợp đồng là phúc lợi của người lao động được hưởng để đổi lấy việc người lao động chấm dứt hợp đồng lao động do (i) doanh nghiệp quyết định chấm dứt hợp đồng với người lao động trước ngày nghỉ hưu thông thường; hoặc (ii) người lao động quyết định chấp nhận chấm dứt hợp đồng để được nhận một khoản trợ cấp. ∙ Nếu phúc lợi khi chấm dứt hợp đồng dự kiến được thanh toán toàn bộ trong vòng
12 tháng sau khi kết thúc kỳ báo cáo năm mà khoản lợi ích khi thôi việc đó được ghi nhận, doanh nghiệp phải áp dụng các yêu cầu về phúc lợi ngắn hạn cho người lao động. ∙ Nếu phúc lợi khi chấm dứt hợp đồng dự kiến sẽ không được thanh toán toàn bộ trong vòng 12 tháng sau khi kết thúc kỳ báo cáo năm, doanh nghiệp phải áp dụng các yêu cầu về phúc lợi dài hạn khác cho người lao động. |
| Phúc lợi của người lao động nhận được trên cơ sở cổ phiếu | |
| Không có hướng dẫn tương tự.
Nợ phải trả được ghi nhận theo giá trị danh nghĩa trên cơ sở dồn tích nếu được xác định một cách tin cậy. Thành phần vốn chủ sở hữu không được ghi nhận cho đến ngày thực hiện. |
Thanh toán trên cơ sở cổ phiếu (SBP) là thỏa thuận giữa doanh nghiệp và một bên khác (bao gồm người lao động), thỏa thuận này cho phép bên khác nhận được (i) các công cụ vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp hoặc một nhóm các doanh nghiệp khác; hoặc (ii) tiền
mặt hoặc các tài sản khác của doanh nghiệp dựa trên giá (hoặc giá trị) của các công cụ vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp (hoặc một nhóm các doanh nghiệp khác). Khi nhận được dịch vụ do người lao động cung cấp, doanh nghiệp ghi tăng vốn chủ sở hữu tương ứng với giao dịch được thanh toán bằng vốn chủ sở hữu hoặc ghi tăng nợ phải trả tương ứng với giao dịch thanh toán bằng tiền mặt. Nguyên tắc đo lường cơ bản là ghi nhận giá trị hợp lý cho các công cụ vốn chủ sở hữu và nợ phải trả tại ngày cam kết. |
Các lưu ý khi chuyển đổi báo cáo tài chính theo IFRS:
Khi chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS, doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề sau đây:
1. Đối với các phúc lợi dài hạn của người lao động mà dự kiến sẽ không được thanh toán toàn bộ trong vòng 12 tháng sau khi kết thúc kỳ báo cáo, các khoản thanh toán trong tương lai phải được chiết khấu để ghi nhận theo giá trị hiện tại.
2. Doanh nghiệp phải xác định tất cả các nghĩa vụ pháp lý trong các hợp đồng lao động và phân loại các phúc lợi cho người lao động để áp dụng các xử lý kế toán phù hợp.
3. Đôi khi, việc xác định tỷ lệ chiết khấu rất phức tạp. Doanh nghiệp có thể sử dụng lãi suất thị trường của trái phiếu doanh nghiệp chất lượng cao tại cuối kỳ báo cáo để làm tham chiếu cho tỷ lệ chiết khấu.
4. Đối với quỹ phúc lợi với mức phúc lợi xác định, cần có sự tham gia của chuyên gia thống kê để xác định nghĩa vụ phúc lợi được xác định trong tương lai. Dịch vụ này hiện tại có thể không có tại Việt Nam.
5. Nếu doanh nghiệp áp dụng phúc lợi cho nhân viên thanh toán trên cơ sở cổ phiếu, doanh nghiệp cần đánh giá ảnh hưởng đến báo cáo tài chính kịp thời.
Thuế thu nhập bao gồm tất cả thuế trong và ngoài nước đánh trên thu nhập chịu thuế. Thuế thu nhập cũng bao gồm các loại thuế được thanh toán bởi các công ty con, công ty liên kết hoặc liên doanh tính trên các khoản phân phối lợi nhuận cho doanh nghiệp báo cáo. Các vấn đề về thuế thu nhập được điều chỉnh theo các hướng dẫn sau:
∙ VAS 17 Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thông tư 200 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam và Thông tư 202 hướng dẫn phương pháp lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất.
∙ IAS 12 Thuế thu nhập và IFRIC 23 Sự không chắc chắn về thuế thu nhập.
Những khác biệt chính giữa VAS và IFRS:
|
VAS |
IFRS |
|
Ghi nhận chi phí thuế thu nhập hiện hành |
|
| Không có yêu cầu tương tự vì VAS không quy định về báo cáo thu nhập toàn diện khác | Chi phí thuế thu nhập hiện hành được ghi nhận là chi phí trong báo cáo lãi hoặc lỗ, trừ trường hợp thuế phát sinh từ một giao dịch hoặc sự kiện được ghi nhận vào báo cáo thu nhập toàn diện khác. |
|
Ghi nhận tài sản và nghĩa vụ thuế thu nhập hoãn lại |
|
| Không có yêu cầu tương tự theo VAS. | Lỗ thuế có thể được chuyển về để bù trừ với thuế hiện hành của kỳ trước được ghi nhận là tài sản trong kỳ phát sinh khoản lỗ thuế đó. |
| Không có hướng dẫn tương tự trong trường hợp cụ thể này. | Doanh nghiệp có thể phát hành một công cụ tài chính phức hợp và phân loại cấu phần nợ phải trả của công cụ là nợ phải trả và cấu phần vốn chủ sở hữu là vốn chủ sở hữu. Chênh lệch tạm thời chịu thuế phát sinh từ việc ghi nhận ban đầu của cấu phần vốn chủ sở hữu tách biệt với cấu phần nợ phải trả. Do đó, doanh nghiệp ghi nhận nghĩa vụ thuế thu nhập hoãn lại phải trả. |
| Không có hướng dẫn tương tự vì phương pháp giá trị hợp lý không được sử dụng theo VAS. | IFRS cho phép hoặc yêu cầu một số tài sản phải được ghi nhận theo giá trị hợp lý hoặc phải đánh giá lại. Chênh lệch giữa giá trị ghi sổ của tài sản phải đánh giá lại và cơ sở tính thuế của tài sản đó là một khoản chênh lệch tạm thời dẫn đến phát sinh tài sản thuế thu nhập hoãn lại hoặc thuế thu nhập hoãn lại phải trả. |
|
Xác định giá trị tài sản và nghĩa vụ thuế thu nhập hoãn lại |
|
| VAS không đưa ra hướng dẫn về việc đo lường tài sản và nghĩa vụ thuế thu nhập hoãn lại. | Trong trường hợp các mức thu nhập chịu thuế khác nhau chịu thuế suất khác nhau, tài sản thuế thu nhập hoãn lại và nghĩa vụ thuế thu nhập hoãn lại được xác định dựa trên mức thuế suất trung bình dự kiến sẽ áp dụng cho lợi nhuận chịu thuế (lỗ tính thuế) trong các kỳ mà chênh lệch tạm thời dự kiến hoàn nhập. |
|
Trình bày tài sản và nghĩa vụ thuế thu nhập hoãn lại |
|
| Không có hướng dẫn tương tự trong trường hợp cụ thể này. | IFRIC 23 yêu cầu các doanh nghiệp xem xét khả năng cơ quan thuế đưa ra các quyết định bất lợi về thuế. Hướng dẫn này được áp dụng để xác định lợi nhuận chịu thuế (lỗ tính thuế), căn cứ tính thuế, các khoản lỗ thuế chưa sử dụng, các khoản khấu trừ thuế chưa sử dụng và thuế suất khi có sự không chắc chắn trong việc xử lý các vấn đề về thuế thu nhập theo IAS 12. |
Các lưu ý khi chuyển đổi báo cáo tài chính theo IFRS:
Khi chuyển đổi báo cáo tài chính sang IFRS, doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề sau đây:
1. Như đã đề cập trong các chuẩn mực khác, việc ghi nhận tài sản và nợ phải trả theo IFRS và VAS có sự khác biệt đáng kể. Do đó, doanh nghiệp phải xác định các khoản chênh lệch tạm thời để ghi nhận thuế thu nhập hoãn lại một cách phù hợp;
2. Nếu doanh nghiệp phát sịnh các khoản lỗ thuế có thể chuyển về để bù trừ với thuế hiện hành của kỳ trước thì doanh nghiệp phải xem xét để ghi nhận tài sản thuế thu nhập hoãn lại;
3. Khi ước tính thuế thu nhập thu nhập hoãn lại, doanh nghiệp phải xem xét tính không chắc chắn trong các xử lý thuế thu nhập để ghi nhận và thuyết minh.
Xử lý kế toán đối với hợp nhất kinh doanh và báo cáo tài chính hợp nhất được điều chỉnh theo các hướng dẫn sau:
∙ VAS 11 Hợp nhất kinh doanh, VAS 25 Báo cáo tài chính hợp nhất và và kế toán khoản đầu tư vào công ty con và Thông tư 202 hướng dẫn phương pháp lập và trình bày báo cáo tài chính hợp nhất.
∙ IFRS 3 Hợp nhất kinh doanh và IFRS 10 Báo cáo tài chính hợp nhất.
Những khác biệt chính giữa VAS và IFRS:
| VAS | IFRS |
| Ghi nhận và xác định lợi thế thương mại | |
| Lợi thế thương mại ban đầu được ghi nhận theo giá gốc, là phần thặng dư giữa giá phí trong giao dịch hợp nhất kinh doanh so với lợi ích của bên mua trong giá trị hợp lý của tài sản thuần có thể xác định được, nợ phải trả và nợ tiềm tàng được ghi nhận. | IFRS có định nghĩa chi tiết hơn về giá phí trong giao dịch hợp nhất kinh doanh, bao gồm: (i) giá trị hợp lý của khoản thanh toán tại ngày mua; (ii) giá trị lợi ích cổ đông không kiểm soát của bên bị mua được xác định theo IFRS 3; và (iii) giá trị hợp lý tại ngày mua của khoản đầu tư trước đây bên mua sở hữu đối với bên bị mua trong trường hợp hợp nhất kinh doanh theo nhiều giai đoạn. |
| VAS không có yêu cầu tương tự. Lợi thế thương mại sẽ được ghi nhận cho phần lợi ích mà công ty mẹ nắm giữ. | IFRS 3 yêu cầu ghi nhận toàn bộ lợi thế thương mại khi hợp nhất. Theo đó, lợi thế thương mại phân bổ cho lợi ích của cổ đông không kiểm soát phải được xem xét khi hợp nhất, dẫn đến việc đưa phần lợi thế thương mại tương ứng vào lợi ích của cổ đông không kiểm soát. |
| Lợi thế thương mại được ghi nhận toàn bộ hoặc phân bổ dần vào chi phí trong thời gian tối đa không quá 10 năm | IFRS 3 không cho phép phân bổ lợi thế thương mại. Thay vào đó, lợi thế thương mại phải được kiểm tra mức độ suy giảm giá trị ít nhất một năm một lần theo IAS 36 Suy giảm giá trị tài sản. |
|
Giá mua |
|
| VAS cho phép giá mua bao gồm các chi phí liên quan trực tiếp.
VAS không có yêu cầu tương tự. |
IFRS 3 đề cập đến việc loại trừ các chi phí (như phí tư vấn, v.v.) khỏi giá mua. Các chi phí này cần được ghi nhận ngay vào Báo cáo thu nhập toàn diện.
IFRS 3 yêu cầu giá mua phải bao gồm các khoản thanh toán tiềm tàng. Các khoản này phải được điều chỉnh để xác định lợi thế thương mại nếu phát sinh trong vòng một năm kể từ ngày mua. |
|
Hợp nhất kinh doanh đối với các doanh nghiệp đồng kiểm soát |
|
| VAS không có hướng dẫn tương tự. Nhìn chung, kế toán hợp nhất kinh doanh vẫn được áp dụng do các doanh nghiệp không đồng kiểm soát. | IFRS 3 định nghĩa hợp nhất kinh doanh liên quan đến các thực thể/doanh nghiệp đồng kiểm soát. Theo đó, các giao dịch này sẽ bị loại khỏi phạm vi điều chỉnh của IFRS 3. Hiện tại IFRS chưa có quy định cho các giao dịch này. |
|
Thanh lý công ty con, công ty liên kết và công ty liên doanh |
|
| Tương tự IFRS, tuy nhiên VAS chưa xây dựng chuẩn mực kế toán các công cụ tài chính. Theo đó, các khoản đầu tư còn lại sẽ được ghi nhận theo giá gốc. | Các khoản đầu tư còn lại vào các doanh nghiệp không còn là công ty con, công ty liên kết hoặc công ty liên doanh sẽ được ghi nhận theo IFRS 9 – Công cụ tài chính. |
|
Định nghĩa về quyền kiểm soát |
|
| Khi doanh nghiệp nắm giữ hơn 50% quyền biểu quyết trở lên đối với bên được đầu tư.
Ba (3) điều kiện mà quyền kiểm soát cũng tồn tại ngay cả khi công ty mẹ có ít hơn 50% quyền biểu quyết đối với một doanh nghiệp: ∙ Quyền kiêm soát các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp theo quy chế hoặc thỏa thuận. ∙ Quyền bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm đa số thành viên của Hội đồng quản trị hoặc cơ quan quản lý tương đương, hoặc ∙ Quyền bỏ đa số phiếu tại các cuộc họp của Hội đồng quản trị hoặc cơ quan quản lý tương đương. |
Nhà đầu tư kiểm soát bên được đầu tư khi và chỉ khi nhà đầu tư đáp ứng tất cả ba (3) điều kiện sau:
∙ Trao quyền cho bên được đầu tư, tức là nhà đầu tư có các “quyền” cho phép nhà đầu tư có khả năng chỉ đạo các hoạt động liên quan (các hoạt động ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận của bên được đầu tư).∙ Gánh chịu rủi ro, hoặc được hưởng, các khoản hoàn vốn biến đổi từ việc tham gia vào bên được đầu tư. ∙ Có khả năng sử dụng quyền chi phối đối với bên được đầu tư để tác động đến các khoản hoàn vốn của nhà đầu tư. |
|
Đơn vị quản lý quỹ đầu tư |
|
| VAS không có yêu cầu tương tự. | IFRS 10 có các yêu cầu kế toán đặc biệt đối với các doanh nghiệp đầu tư. Khi một doanh nghiệp đáp ứng định nghĩa về “doanh nghiệp đầu tư”, thì doanh nghiệp đó đó không phải hợp nhất các công ty con khi đạt được quyền kiểm soát. Việc miễn trừ hợp nhất chỉ áp dụng cho một mình doanh nghiệp đầu tư. Theo đó, công ty mẹ của một doanh nghiệp đầu tư phải hợp nhất tất cả các đơn vị mà nó kiểm soát, bao gồm cả những đơn vị được kiểm soát thông qua một công ty con của doanh nghiệp đầu tư, trừ khi chính công ty mẹ là một doanh nghiệp đầu tư. |
|
Miễn trừ lập báo cáo tài chính hợp nhất |
|
| Công ty mẹ là công ty con thuộc sở hữu hoàn toàn hoặc hầu như thuộc sở hữu hoàn toàn với sự chấp thuận của cổ đông không kiểm soát. | Công ty mẹ không cần lập báo cáo tài chính hợp nhất nếu đáp ứng được tất cả bốn (4) điều kiện sau: (i) công ty mẹ đó là công ty con thuộc sở hữu toàn bộ hoặc một phần của một doanh nghiệp khác và tất cả các chủ sở hữu của công ty mẹ đó, bao gồm cả những đối tượng không có quyền biểu quyết được thông báo và không phản đối việc công ty mẹ không lập báo cáo tài chính hợp nhất (ii) các công cụ nợ hoặc công cụ vốn của công ty mẹ đó không được giao dịch trên thị trường đại chúng; (iii) công ty mẹ đó không thuộc đối tượng phải nộp, cũng như không trong quá trình chuyển đổi thành đối tượng phải nộp báo cáo tài chính lên Ủy ban Chứng khoán hoặc cơ quan có thẩm quyền khác với mục đích phát hành các loại công cụ tài chính ra thị trường đại chúng; và (iv) công ty mẹ cuối cùng hoặc công ty mẹ trung gian của công ty mẹ đó lập báo cáo tài chính công bố rộng rãi ra công chúng tuân thủ theo IFRS. |
Các lưu ý khi chuyển đổi báo cáo tài chính theo IFRS:
1. IFRS hướng dẫn chi tiết hơn khi xác định giá mua, bao gồm đo lường giá trị hợp lý và các khoản nhận hoặc thanh toán tiềm tàng. Do đó, khi chuyển đổi từ VAS sang IFRS, doanh nghiệp cần xem xét tất cả các khía cạnh của hợp đồng mua để xác định chi phí tiềm tàng được tính vào chi phí mua.
2. Thông tư 202 quy định nhiều trường hợp hợp nhất bao gồm tái cấu trúc và hợp nhất đồng kiểm soát, là những nội dung chưa được IFRS hướng dẫn chính thức. Khi lập báo cáo tài chính theo IFRS, doanh nghiệp cần xem xét bản chất thay vì hình thức của các giao dịch để vận dụng các xử lý kế toán phù hợp theo IFRS.
3. Trong năm đầu tiên áp dụng IFRS, doanh nghiệp có quyền lựa chọn tiếp tục hợp nhất kinh doanh và kế toán hợp nhất theo VAS cho các giao dịch xảy ra trước ngày chuyển sang IFRS. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải áp dụng các xử lý kế toán theo IFRS kể từ sau ngày chuyển đổi.
Suy giảm giá trị của tài sản không phải là một khái niệm kế toán mới, theo đó, một tài sản có thể suy giảm giá trị khi giá trị có thể thu hồi (giá trị có thể thu hồi từ việc sử dụng hoặc bán tài sản đó) thấp hơn giá trị còn lại của tài sản đó.
∙ IAS 36 Suy giảm giá trị của tài sản.
∙ VAS không có chuẩn mực kế toán tương đương. Khái niệm “suy giảm giá trị của tài sản” được nhắc đến trong một số chuẩn mực kế toán và Thông tư 200 liên quan đến kiểm tra các yêu cầu về “dự phòng tổn thất tài sản”.
Những khác biệt chính giữa VAS và IFRS:
| VAS | IFRS |
| Phạm vị điều chỉnh | |
| Không có quy định tương đương. Tuy nhiên, VAS yêu cầu kiểm tra khả năng giảm giá chứng khoán kinh doanh, bất động sản đầu tư nắm giữ chờ tăng giá, đầu tư vào doanh nghiệp khác, phải thu và hàng tồn kho, v.v. | Tài sản thuộc phạm vi điều chỉnh của IAS 36 bao gồm: • tài sản không sẵn sàng sử dụng;
• đầu tư vào công ty con và liên doanh; • bất động sản đầu tư, bất động sản, nhà xưởng và thiết bị; và • tài sản vô hình, bao gồm cả lợi thế thương mại. |
|
Xác định tài sản có dấu hiệu suy giảm giá trị |
|
| Không áp dụng. | Tại ngày báo cáo, doanh nghiệp cần đánh giá liệu có dấu hiệu cho thấy một tài sản bị suy giảm giá trị. Nếu tồn tại bất kỳ dấu hiệu nào, doanh nghiệp cần ước tính giá trị có thể thu hồi của tài sản đó.
Không phân biệt liệu có bất kỳ dấu hiệu suy giảm giá trị nào không, doanh nghiệp phải kiểm tra suy giảm giá trị trị đối với tài sản vô hình không sẵn sàng sử dụng hoặc có thời gian sử dụng hữu ích vô thời hạn, lợi thế thương mại từ hợp nhất kinh doanh thông qua so sánh giá trị còn lại với giá trị có thể thu hồi của tài sản đó. |
|
Đo lường |
|
| VAS yêu cầu đánh giá tổn thất từ: chứng khoán kinh doanh do biết động giá thị trường; đầu tư vào doanh nghiệp khác do suy giảm giá trị tài sản thuần của doanh nghiệp nhận đầu tư; khả năng thu hồi của các khoản phải thu; và suy giảm giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho. | Khi việc kiểm tra suy giảm giá trị tài sản là bắt buộc, doanh nghiệp cần ước tính giá trị có thể thu hồi và so sánh với giá trị còn lại của tài sản đó.
Giá trị có thể thu hồi được ước tính là giá trị cao hơn giữa giá trị hợp lý (theo IFRS 13) của tài sản/đơn vị tạo tiền (“CGU”) trừ đi chi phí bán và giá trị sử dụng tài sản đó, là giá trị hiện tại của các dòng tiền tương lai được kỳ vọng từ tài sản đó hoặc CGU. |
|
Ghi nhận và hoàn nhập lỗ do suy giảm giá trị tài sản |
|
| Nếu kết quả đánh giá cho thấy giá trị sổ sách thấp hơn giá trị đánh giá, dự phòng cần được ghi nhận cho phần chênh lệch. Giá trị chênh
lệch phải được kiểm trả lại hàng năm nhằm đảm bảo các khoản dự phòng cần được trích lập thêm hoặc hoàn nhập. Dự phòng được ghi nhận vào báo cáo lãi lỗ. |
Khi giá trị có thể thu hồi thấp hơn giá trị còn lại của của tài sản, phần chênh lệch này được ghi nhận là tổn thất do suy giảm giá trị hoặc được hoàn nhập, nếu ngược lại.
Tổn thất do suy giảm giá trị được ghi nhận vào (i) báo cáo lãi hoặc lỗ (đối với tài sản theo mô hình đánh giá lại), hoặc (ii) báo cáo thu nhập toàn diện khác (đối với tài sản không theo phương pháp đánh giá lại). |
Các lưu ý khi chuyển đổi báo cáo tài chính theo IFRS:
1. IFRS yêu cầu thực hiện kiểm tra hàng năm đối với tổn thất do suy giảm giá trị. Cho mục đích kế toán, việc kiểm tra nên ghi nhận theo mẫu Báo cáo kiểm tra suy giảm giá trị tài sản và phê duyệt bởi Ban Giám đốc.
2. Khi chuyển đổi từ VAS sang IFRS, doanh nghiệp nên xem xét liệu có các dấu hiệu suy giảm giá trị tài sản dựa trên các nguồn thông tin nội bộ và/hoặc từ bên ngoài. Nếu có, doanh nghiệp nên xác định các CGU theo bản chất hoạt động và kinh doanh. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần kiểm tra khả năng suy giảm giá trị của lợi thế thương mại tại ngày chuyển đổi.
3. Doanh nghiệp cũng nên xem xét tính cần thiết của việc phát triển hệ thống thông tin để đánh giá cũng như giám sát việc thực hiện và việc tạo ra dòng tiền của các CGU (hoặc các tài sản riêng biệt).
Một số IFRS yêu cầu hoặc cho phép các doanh nghiệp đo lường hoặc thuyết minh giá trị hợp lý của tài sản, nợ phải trả hoặc các công cụ vốn của mình. Tuy nhiên, các yêu cầu về đo lường giá trị hợp lý và thuyết minh thông tin việc đo lường giá trị hợp lý còn phân tán và không nêu rõ mục tiêu trình bày hoặc phương pháp đo lường trong nhiều trường hợp.
IFRS 13 Đo lường giá trị hợp lý được phát triển để đưa ra khuôn khổ các yêu cầu về đo lường giá trị hợp lý và trình bày các thông tin đo lường giá trị hợp lý theo IFRS.
VAS không có chuẩn mực kế toán tương đương, tuy nhiên, thuật ngữ “giá trị hợp lý” thường được sử dụng trong nhiều hướng dẫn kế toán, đặc biệt là trong Thông tư 200 hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp tại Việt Nam.
Những khác biệt chính giữa VAS và IFRS:
| VAS | IFRS |
| Định nghĩa | |
| Giá trị hợp lý là giá trị dựa trên thị trường theo định nghĩa của Luật kế toán. | IFRS định nghĩa giá trị hợp lý là giá nhận được để bán tài sản hoặc được trả để chuyển nhượng một khoản nợ trong một giao dịch công khai trên thị trường giữa các bên tham gia tại ngày đo lường. |
| Đo lường | |
| Không có quy định về xác định giá thị trường. | Đo lường giá trị hợp lý giả định rằng giao dịch bán tài sản hoặc chuyển nhượng khoản nợ phải trả diễn ra: (a) trên thị trường chính yếu của tài sản hoặc khoản nợ phải trả; hoặc (b) trong trường hợp không có thị trường chính yếu, trong thị trường thuận lợi nhất cho tài sản hoặc nợ phải trả. |
| Không có quy định xác định đối tượng tham gia thị trường. | Doanh nghiệp phải xác định các đặc điểm để phân biệt các bên tham gia thị trường nói chung, xem xét các bên tham gia thị trường mà doanh nghiệp sẽ tham gia giao dịch trên thị trường đó. |
| Giá thường được hiểu là giá thị trường. | Giá là mức giá đầu ra tại ngày đo lường trong điều kiện thị trường hiện tại bất kể giá đó có thể quan sát trực tiếp hay ước tính bằng cách sử dụng một kỹ thuật định giá khác. |
| Kỹ thuật định giá | |
| Không có hướng dẫn tương tự theo VAS. | Doanh nghiệp phải sử dụng các kỹ thuật định giá phù hợp với hoàn cảnh và có đủ dữ liệu để đo lường giá trị hợp lý, tối đa hóa việc sử dụng các yếu tố đầu vào có thể quan sát được và giảm thiểu việc sử dụng các đầu vào không thể quan sát được. |
| Hệ thống phân cấp giá trị hợp lý | |
| Không có hướng dẫn tương tự theo VAS. | Đầu vào cấp độ 1 là giá niêm yết (chưa điều chỉnh) trong các thị trường sôi động của các tài sản hoặc nợ phải trả tương tự nhau mà doanh nghiệp có thể tiếp cận vào ngày đo lường giá trị.
Đầu vào cấp độ 2 là các đầu vào khác không phải là giá niêm yết được bao gồm trong Cấp độ 1, có thể quan sát được đối với tài sản hoặc nợ phải trả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Đầu vào cấp độ 3 là đầu vào không quan sát được đối với tài sản hoặc nợ phải trả. |
Báo cáo tài chính IFRS đầu tiên của doanh nghiệp là báo cáo tài chính hàng năm đầu tiên mà doanh nghiệp áp dụng IFRS, với tuyêt bố rõ ràng trong các báo cáo tài chính về việc tuân thủ IFRS. Việc lập báo cáo tài chính theo IFRS đầu tiên chịu sự điều chỉnh của IFRS 1 Lần đầu tiên áp dụng các Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế.
VAS không có quy định tương tự. Các hạch toán kế toán theo VAS được áp dụng nhất quán phù hợp với các yêu cầu của các chuẩn mực kế toán khác.
Các yêu cầu chính của IFRS 1 được tóm tắt như sau:
Báo cáo tài chính IFRS đầu tiên của doanh nghiệp là báo cáo tài chính hàng năm đầu tiên mà doanh nghiệp áp dụng IFRS, với tuyêt bố rõ ràng trong các báo cáo tài chính về việc tuân thủ IFRS. Việc lập báo cáo tài chính theo IFRS đầu tiên chịu sự điều chỉnh của IFRS 1 Lần đầu tiên áp dụng các Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế.
VAS không có quy định tương tự. Các hạch toán kế toán theo VAS được áp dụng nhất quán phù hợp với các yêu cầu của các chuẩn mực kế toán khác.
Các yêu cầu chính của IFRS 1 được tóm tắt như sau:
| IFRS 1 |
| Ghi nhận và đo lường |
| Doanh nghiệp phải lập và trình bày báo cáo tình hình tài chính đầu kỳ theo IFRS tại ngày chuyển đổi sang IFRS. Đây là điểm khởi đầu cho việc kế toán theo IFRS.
Doanh nghiệp phải sử dụng các chính sách kế toán giống nhau trong báo cáo tình hình tài chính đầu kỳ theo IFRS và trong tất cả các giai đoạn được trình bày trong báo cáo tài chính IFRS đầu tiên. Trong báo cáo tình hình tài chính đầu kỳ theo IFRS, doanh nghiệp cần: (a) ghi nhận tất cả các tài sản và nợ phải trả mà IFRS yêu cầu ghi nhận; (b) không ghi nhận các khoản mục là tài sản hoặc nợ phải trả nếu IFRS không cho phép; (c) phân loại lại các khoản mục được ghi nhận theo VAS trước đây như một loại tài sản, nợ phải trả hoặc thành phần của vốn chủ sở hữu sàn một loại tài sản, nợ phải trả hoặc thành phần của vốn chủ sở hữu khác theo IFRS; và (d) áp dụng IFRS trong việc đo lường tất cả các tài sản và nợ phải trả đã được ghi nhận. Các chính sách kế toán mà doanh nghiệp sử dụng trong báo cáo tình hình tài chính đầu kỳ theo IFRS có thể khác với VAS. Kết quả điều chỉnh phát sinh từ các sự kiện và giao dịch trước ngày chuyển đổi sang IFRS. Do đó, doanh nghiệp phải ghi nhận những điều chỉnh đó trực tiếp vào lợi nhuận giữ lại (hoặc, nếu thích hợp, một khoản mục vốn chủ sở hữu khác) tại ngày chuyển đổi sang IFRS. |
| Các ngoại lệ bắt buộc đối với việc áp dụng hồi tố các IFRS khác |
|
IFRS này không cho phép áp dụng hồi tố một số điểm của các IFRS khác, bao gồm: ∙ Các ước tính: các ước tính theo IFRS của doanh nghiệp tại ngày chuyển đổi sang IFRS phải phù hợp với các ước tính được lập cùng ngày theo VAS. ∙ Dừng ghi nhận các tài sản và nợ phải trả tài chính: doanh nghiệp lần đầu áp dụng IFRS áp dụng các yêu cầu dừng ghi nhận theo IFRS 9 phi hồi tố đối với các giao dịch xảy ra vào hoặc sau ngày chuyển đổi sang IFRS. ∙ Phân loại, đo lường và suy giảm tài sản tài chính theo IFRS 9. ∙ Những trường hợp khác như: công cụ phái sinh ngầm, kế toán phòng ngừa rủi ro, các khoản lợi ích không kiểm soát và các khoản vay của chính phủ. |
| Các ngoại lệ tùy chọn đối với việc áp dụng hồi tố IFRS khác |
| Có một số trường hợp miễn trừ mà IFRS 1 cho phép doanh nghiệp áp dụng trong lần đầu tiên áp dụng theo IFRS, bao gồm nhưng không giới hạn những điều sau:
∙ Hợp nhất kinh doanh ∙ Chi phí lãi vay ∙ Đầu tư vào công ty con, công ty liên doanh và liên kết ∙ Giá trị hợp lý của tài sản và nợ phải trả tài ∙ Thanh toán dựa trên cổ phiếu chính tại thời điểm ghi nhận ban đầu ∙ Giá phí quy ước ∙ Lũy kế chênh lệch chuyển đổi ∙ Thuê ∙ Khoản mục khác |
| Thuyết minh và trình bày |
| Báo cáo tài chính IFRS đầu tiên phải bao gồm các thông tin tối thiểu như sau:
∙ 03 (ba) báo cáo tình hình tài chính. ∙ 02 (hai) báo cáo lãi hoặc lỗ và báo cáo thu nhập toàn diện khác. ∙ 02 (hai) báo cáo lưu chuyển tiền tệ. ∙ 02 (hai) báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu và các thuyết minh liên quan. ∙ Bất kỳ thông tin nào khác có liên quan đến VAS cũng cần được thuyết minh. ∙ Giải thích ảnh hưởng việc chuyển đổi từ VAS sang IFRS đến tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ. ∙ Đối chiếu từ VAS sang IFRS cho: (i) ngày chuyển đổi; và (ii) ngày của kỳ báo cáo gần nhất theo VAS. |
>>>>Tham khảo khóa học: Khoá học chuyển đổi BCTC từ VAS sang IFRS
Tầng 2 Toà A Chelsea Residences, Số 48 Trần Kim Xuyến, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội
Hotline: 0985 611 911
Vincom Đồng Khởi, Quận 1, TP. HCM
Hotline: 0947 511 911