
Đáp án đề thi CPA 2020 môn Pháp luật được dùng để bạn đối chiếu lại kết quả xong khi luyện xong Đề thi CPA 2020 môn Pháp luật. Việc kiểm tra lại kết quả dựa trên phần đáp án gợi ý sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các lỗi mình đã mắc phải và tìm cách khắc phục. Vì bộ tài chính không công bố đáp án chuẩn, nên phần đáp án bên dưới chỉ là gợi ý để bạn tham khảo.
Bạn có thể dựa trên phần gợi ý đáp án để tham khảo cách trình bày bài thi môn Luật để đạt hiệu quả nhất trong kỳ thi CPA. Ngoài ra bạn có luyện trọn bộ đề thi CPA môn Luật các năm tại bài viết Đề thi CPA môn Luật năm 2015 – 2019 để luyện nhuần nhuyễn môn này cũng như làm quen thuần thục với các dạng bài thi.
Đăng ký nhận ngay LỊCH THI CPA 2025 sớm nhất
>> Mời bạn xem thêm Đáp án CPA môn luật các năm tại các link bài bên dưới, để có thể ôn môn thi CPA môn luật một cách trọn vẹn!
| Đáp án CPA 2024 môn pháp luật về kinh tế và luật doanh nghiệp |
| Đáp án CPA 2023 môn pháp luật về kinh tế và luật doanh nghiệp |
| Đáp án CPA 2022 môn pháp luật về kinh tế và luật doanh nghiệp |
| Đáp án CPA 2020 môn pháp luật về kinh tế và luật doanh nghiệp |
| Đáp án CPA 2019 môn pháp luật về kinh tế và luật doanh nghiệp |
| Đáp án CPA 2018 môn pháp luật về kinh tế và luật doanh nghiệp |
>> Bạn có thể tải thêm Bộ Đề thi CPA các năm trong kỳ thi chứng chỉ hành nghề kế toán (có đáp án)
Luật cạnh tranh 2018 của bộ quy định “bán hàng đa cấp bắt chính” khỏi danh mục các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm so với quy định tại luật cạnh tranh 2004.
Hoạt động bán hàng đa cấp sẽ chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật khác (ví dụ như luật đầu tư, quy định pháp luật quản lý về bán hàng đa cấp – NĐ40/2018/NĐ-CP,…)
Do đó, hành vi thiết lập mạng lưới bán hàng của công ty Mỹ Hoa không vi phạm Luật cạnh tranh 2018.
Theo quy định tại Điều 45 – Khoản 3 – Luật cạnh tranh 2018 quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm có hành vi:
“Lôi kéo khách hàng bất chính bằng các hành vi”
Cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp đưa thông tin không trung thực về doanh nghiệp gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó.”
Công ty Sao Mai cung cấp thông tin cho báo chí về việc thuốc chữa xương khớp của Mỹ Hoa nếu sử dụng lâu dài sẽ có khả năng gây cứng khớp, ảnh hưởng tới khả năng vận động của người dùng. (Thông tin này không có tài liệu chứng minh) làm cho doanh số bán hàng của Mỹ Hoa sụt giảm chỉ còn 40% so với các quỹ trước cũng như cùng kỳ năm trước.
Vì đây là thông tin chưa có tài liệu chứng minh, việc cung cấp thông tin này cho báo chí làm ảnh hưởng xấu đến uy tín và tinh trạng tài chính của công ty Mỹ Hoa (sụt giảm doanh số bán hàng) nên hành vi này của công ty Sao Mai là hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm theo Pháp luật cạnh tranh 2018.
Thành viên phải góp đủ bằng đúng loại TS góp vốn như đã cam kết trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày cty được cấp GCN đăng ký doanh nghiệp ko kể thời gian vận chuyển, nhập khẩu ts góp vốn, làm thủ tục hành chính để chuyển quyền ở hữu tài sản, đúng hạn. Trong thời hạn này, thành viên có quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết.
Sau thời hạn trên (90 ngày), nếu các thành viên chưa góp hoặc góp chưa đủ phần vốn góp đã cam kết thì thành viên chưa góp đương nhiên chưa là thành viên công ty. Thành viên chưa góp đủ sẽ có quyền tương ứng với phần vốn đã góp.
Phần vốn chưa góp được chào bán theo nghị quyết, quyết định của hội đồng thành viên.
Công ty phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ, tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên bằng số vốn đã góp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ phần vốn góp theo quy định tại khoản 2 Điều này. Các thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp của thành viên.
Trong trường hợp này.
– Đăng ký doanh nghiệp vào ngày 16/05/2019;
– Ngày 20/08/2019 (97 ngày kể từ ngày đăng ký doanh nghiệp), công ty họp hội đồng thành viên:
Đã quá thời hạn góp vốn theo cam kết Bà Hà vẫn chưa góp đủ vốn đã cam kết nên bà Hà cho rằng bà có số phiếu biểu quyết tương ứng với 50% vốn điều lệ của công ty là không đúng theo quy định của pháp luật. Bà Hà chỉ có quyền tương ứng với số vốn đã góp bằng tiền.
Đồng thời, Công ty chưa đăng kí thay đổi vốn điều lệ với cơ quan chức năng nên bà Hà phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ theo quy định của pháp luật: 50% vốn điều lệ.
Điều kiện sáp nhập doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp 2014 (Tham chiếu theo văn bản pháp luật có hiệu lực theo đề cương ôn thi):
Trường hợp sáp nhập mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của công ty thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành sáp nhập, trừ trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác.
Cấm các trường hợp sáp nhập các công ty mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan, trừ trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác. Trong trường hợp này, thị phần kết hợp của 2 công ty trên thị trường có liên quan là 25%. Bình Minh và An Phú được sáp nhập.
Tính chất của quan hệ hợp đồng.
Đây là hợp đồng mua bán hàng hoá, do vậy tính chất quan hệ hợp đồng này là hợp đồng kinh doanh thương mại.
– Ngày 5/12/2017, công ty NH báo và giao hàng đợt đầu tiên nhưng không đúng chất lượng sản phẩm
=> Công ty TL chỉ chấp nhận thanh toán 10 triệu đồng / tấn
=> Bên công ty NH vi phạm nguyên tắc thực hiện hợp đồng do giao hàng không đúng chất lượng
Theo Điều 297 Luật Thương mại, khi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có thể lựa chọn hoặc yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc lựa chọn các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm
phải chịu chi phí phát sinh. Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Luật Thương mại được đặt ra khi có vi phạm các điều khoản về số lượng, chất lượng hàng hóa, yêu cầu kỹ thuật của công việc. Khi bên vi phạm giao hàng thiếu, cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải giao đủ hàng, cung ứng dịch vụ theo đúng thoả thuận trong hợp đồng. Nếu bên vi phạm giao hàng kém chất lượng, cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm loại trừ khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng.
=> Yêu cầu của công ty TL. là đúng. Công ty TL có quyền yêu cầu thỏa thuận lại về giá do bên NH không giao đúng chất lượng hàng hoá theo thoả thuận. Mức giá mới dựa trên cơ sở thỏa thuận giữa 2 bên.
=> Công ty NH không thực hiện hoặc không đang thời gian thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng (vd: giao thay thế hàng đúng chủng loại, chất lượng) thì việc bên NH yêu cầu bên TL thanh toán theo đúng đơn giá thỏa thuận ban đầu là Không phù hợp với quy định.
=> Ngày 7/12/2017, công ty NH giao 50 tấn của đợt 2, công ty TL từ chối không nhận do NH không báo trước, công ty NH không có kho chứa hàng. Đêm đó, mưa to nên 50 tấn hàng bị ướt và hư hỏng hoàn toàn.
Khi ký kết hợp đồng, cả 2 bên không thỏa thuận về việc báo trước việc vận chuyển hàng mà chỉ có thoả thuận giao hàng trong vòng 10 ngày kể từ khi ký hợp đồng. Công ty NH vẫn giao hàng đúng quy định tại kho của TL trong thời hạn 10 ngày.
=> Do đó công ty NH không vi phạm hợp đồng. Công ty TL không nhận hàng với lý do không có trong thỏa thuận hợp đồng là hành vi vi phạm nguyên tắc thực hiện hợp đồng.
Và công ty NH có quyền áp dụng chế tài buộc thực hiện hợp đồng để yêu cầu công ty TL nhận hàng theo đúng thỏa thuận
NH đã giao hàng đến địa điểm theo thoả thuận hợp đồng với TL và TL không nhận hàng là vi phạm hợp đồng, thì rủi ro về mất mát, hư hỏng hàng hóa được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm hàng hoá thuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng.
=> Do vậy công ty NH có quyền yêu cầu công ty TL bồi thường thiệt hại đối với lô hàng 50 tấn của đợt 2 đúng theo quy định của pháp luật.
– NH không tiếp tục giao hàng đợt 3:
Trường hợp một bên nhận thấy bên kia vi phạm cơ bản nghĩa vụ của hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng nhưng phải thông báo tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng cho bên kia. Trường hợp không thông báo ngày mà gây thiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại điều 315 Luật Thương mại.
Trong trường hợp này, công ty NH không thông báo với công ty TL về việc tạm ngừng thực hiện, định chỉnh hoặc hủy bỏ hợp đồng mà đơn phương không giao hàng đợt 3.
=> Công ty NH vi phạm hợp đồng.
=> Công ty TL có quyền yêu cầu công ty NH bồi thường thiệt hại do hành vi không giao hàng đợt 3 gây ra là đúng theo quy định.
Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. TL phải chứng minh tổn thất thực tế, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.
– Yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng của công ty TL:
Trong bài không đề cập về thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng, giả sử là trong hợp đồng không có thỏa thuận này
Khi đó, công ty TL yêu cầu công ty NH phải chịu phạt vi phạm hợp đồng là không đúng.
Trường hợp hợp đồng có thỏa thuận điều khoản phạt vi phạm thì mức phạt 8% trên giá trị hợp đồng cũng không đúng vì lần giao hàng thứ 2 công ty NH không vi phạm hợp đồng. Mức phạt vi phạm hợp đồng tối đa là 8% giá trị bị vi phạm.
a, Tính hợp pháp của thỏa thuận góp vốn:
Theo quy định tại Điều 35- Luật Doanh nghiệp 2014 về Tài sản góp vốn
1. Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam.
Vậy:
– Ông A góp 1 tỷ VNĐ bằng tiền mặt, góp khi công ty được cấp đăng kí kinh doanh 500 triệu, số còn lại góp khi công ty có yêu cầu => hợp pháp
– Ông B góp bằng quyền hưởng dụng (quyền khai thác, sử dụng) một ngôi nhà để công ty kinh doanh trong 10 năm, giá thị trường ngôi nhà đó đang thuế 8 triệu tháng nhưng các thành viên nhất trí thỏa thuận quyền hưởng dụng căn nhà đó trong 10 năm có giá trị 1 tỷ;
=> Giá trị hiện tại có thể thực hiện của quyền hưởng dụng = 8 x 12 x 10 = 960 triệu < giá trị định giá 1 tỷ
Theo quy định tại Điều 37 – Khoản 2 – Luật Doanh nghiệp 2014:
Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận.
Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá, đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.
=> Các thành viên ông A. B.C phải liên đới góp thêm bằng số chênh lệch: 1.000 – 960 = 40 triệu
– Ông C góp vốn vào công ty 1 tỷ bằng một giấy nhận nợ, ông M nợ ông C 1,3 tỷ
=> Hợp pháp
– Xác định hợp pháp của nội dung điều lệ công ty.
Điều lệ của công ty xác định:
– Ông A là chủ tịch Hội đồng thành viên công ty. Theo quy định tại Điều 57. Chủ tịch Hội đồng thành viên Hội đồng thành viên bầu một thành viên làm Chủ tịch
=> Ông A góp vốn vào công ty )
=> Là thành viên trong Hội đồng thành viên và
=> Việc ông A là chủ tịch Hội đồng thành viên là hợp pháp
– Ông B là giám đốc và là đại diện pháp nhân của công ty
Theo quy định tại Điều 99 – Khoản 1 – Luật Doanh nghiệp 2014 về Giám đốc, Tổng giám đốc công ty
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty do Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty bổ nhiệm hoặc thuê theo phương án nhân sự đã được cơ quan đại diện chủ sở hữu chấp thuận. Công ty có một hoặc một số Phó Tổng giám đốc hoặc Phó Giám đốc. Số lượng thẩm quyền bổ nhiệm Phó Tổng giám đốc hoặc Phó Giám đốc quy định tại Điều lệ công ty. Quyền và nghĩa vụ của Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc quy định tại Điều lệ công ty hoặc hợp đồng lao động.
Giám đốc có thể là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại Điều lệ công ty
=> Ông B là giám đốc là giám đốc và là người đại diện pháp nhân của công ty
– Ông C là phó tổng giám đốc công ty → Hợp pháp
1. Theo quy định của Điều 114 – Khoản 2 – Luật Doanh nghiệp 2014 về quyền của cổ đông phổ thông:
Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên trong thời hạn liên tục ít nhất 06 tháng hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty có các quyền sau đây:
a) Đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát,
b) Xem xét và trích lục số biên bản và các nghị quyết của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm theo mẫu của hệ thống kế toán Việt Nam và các báo cáo của Ban kiểm soát;
c) Yêu cầu triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông trong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này;
d) Yêu cầu Ban kiểm soát kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết. Yêu cầu phải bằng văn bản; phải có họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với cổ đông là cá nhân; tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số quyết định thành lập hoặc số đăng ký doanh nghiệp đối với cổ đông là tổ chức; số lượng cổ phần và thời điểm đăng ký cổ phần của từng cổ đông, tổng số cổ phần của cả nhóm cổ đông và tỷ lệ sở hữu trong tổng số cổ phần của công ty; vấn đề cần kiểm tra, mục đích kiểm tra,
đ) Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty
Vậy, ông Lê Văn K và một nhóm cổ đông có sở hữu 100/900 x 100 = 12,2% tổng số cổ phần của công ty cổ phần trong thời gian liên tục từ 10/2017 đến 12/2018
=> Ông Lê Văn K và nhóm cổ đông này có quyền yêu cầu Hội đồng quản trị được đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát, được xem các nghị quyết và biên bản của Hội đồng quản trị, xem báo cáo tài chính và báo cáo của ban kiểm soát, yêu cầu Ban kiểm tra một số thôn tin về quyết định đầu tư của Hội đồng quản trị.
=> Quyết định nói trên của Hội đồng quản trị công ty G là không đúng.
2. Theo quy định tại Điều 48 – Khoản 2,4 – Luật Doanh nghiệp năm 2014:
“Thành viên phải góp vốn phần vốn góp cho công ty đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Thành viên công ty chỉ được góp vốn phần vốn góp cho công ty bằng các tài sản khác với loại tài sản đã cam kết nếu được sự tán thành của đa số thành viên còn lại. Trong thời hạn này, thành viên có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp như đã cam kết góp.
3. Sau thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà vẫn có thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết thì được xử lý như sau:
a) Thành viên chưa góp vốn theo cam kết đương nhiên không còn là thành viên của công ty;
b) Thành viên chưa góp vốn đủ phần vốn góp như đã cam kết có các quyền tương ứng với phần vốn góp đã góp;
c) Phần vốn góp chưa góp của các thành viên được chào bán theo quyết định của Hội đồng thành viên.
4. Trường hợp có thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết, công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ, tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên bằng số vốn đã góp trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày cuối cùng phải góp vốn đủ phần vốn góp theo khoản 2 Điều này. Các thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên.”
Theo trường hợp này, sau 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, ông Lê Văn T chưa góp đủ vốn cam kết. Theo khoản 3, phần vốn ông T chưa góp này có thể được chào bán theo quyết định của Hội đồng thành viên. Và Công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ, tỷ lệ phần vốn góp theo quy định.
>> Như vậy yêu cầu của các thành viên công ty S phù hợp theo quy định của pháp luật
Video: Tổng hợp các dạng bài hay gặp trong kỳ thi CPA môn Luật
1. Theo quy định tại điều 45 – Khoản 3 – Luật cạnh tranh 2018: Cần doanh nghiệp cung cấp thông tin không tin thực và doanh nghiệp khác bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp ăn thông tin không trung thực về doanh nghiệp gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó.
Công ty Tâm An gửi đơn lên Ủy ban Cạnh tranh quốc gia khiếu nại việc nước tương của công ty Hải Hà có chứa chất 3-MCPD mà vẫn được bán rộng rãi trên thị trường. Công ty Tâm An không được tài liệu chứng minh cho cáo buộc trên và cơ quan cấp trên có thẩm quyền, sau khi kiểm tra, cũng không phát hiện thấy chất cấm 3-MCPD trong nước tương của công ty Hải Hà.
Hành vi cung cấp thông tin không trung thực của công ty Tâm An vi phạm luật cạnh tranh 2018.
2. Theo quy định của Luật cạnh tranh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm trong trường hợp:
– Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Thỏa thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng. khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
– Tâm An và 5 doanh nghiệp khác sản xuất cùng ngành nghề đã kí thỏa thuận cắt giảm 40% khối lượng nước tương trong năm 2019, biết nhu cần thị trường không suy giảm, hàng hóa của các DN nêu trên không bị tồn kho… làm cho sản phẩm nước tương tăng giá 15% so với thời điểm trước khi cắt khối lượng sản xuất
Việc cắt giảm khối lượng sản xuất nước tương của Tâm An và các doanh nghiệp có liên quan là một trong các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo quy định của pháp luật cạnh tranh.
Theo quy định tại Điều 164 – Khoản 1 – Luật doanh nghiệp 2014, về Tiêu chuẩn và điều kiện đối với Kiểm soát viên công ty cổ phần như sau:
a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật này;
b) Không phải là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác;
c) Không được giữ các chức vụ quản lý công ty; không nhất thiết phải là cổ đông hoặc người lao động của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác;
d) Các tiêu chuẩn và điều kiện khác theo quy định khác của pháp luật có liên quan và Điều lệ công ty.
Trong trường hợp này, chị Hoài là con nuôi của ông Bình. Ôn Bình là Chủ tịch Hội đồng quản trị.
=> Việc công ty Ánh Sao bầu Ban Kiểm soát có thành viên là chị Hoài là không phù hợp theo quy định của Luật doanh nghiệp.
2. Đối với cổ phần phổ thông:
Theo quy định tại Điều 119 – Khoản 3,4 Luật Doanh nghiệp 2014 về cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập:
3. Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông.
4. Các hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được bãi bỏ sau thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Các hạn chế của quy định này không áp dụng đối với cổ phần mà cổ đông sáng lập có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp và cổ phần mà cổ đông sáng lập chuyển nhượng cho người khác không phải là cổ đông sáng lập của công ty.
Đến ngày 18/6/2020 (>3 năm từ ngày đăng ký doanh nghiệp), ông Bình – cổ đông sáng lập của công ty đã có quyền để chuyển nhượng 10% cổ phần phổ thông của mình cho chị Hoài.
5. Đối với cổ phần ưu đãi biểu quyết:
Theo quy định tại Điều 116 – Khoản 3 – Luật Doanh nghiệp 2014:
Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác.
Đến ngày 18/6/2020, ông Bình giữ 5% cổ phần ưu đãi biểu quyết è không được phép chuyển nhượng cổ phần đó cho chị Hoài.
>>Xem thêm:
1. Tính chất của quan hệ hợp đồng:
Đây là hợp đồng mua bán hàng hoá, do vậy tính chất quan hệ hợp đồng này là hợp đồng kinh doanh thương mại.
2.
– Ngày 15/01/2018, công ty B báo và giao hàng đợt đầu tiên nhưng không đúng chất lượng sản phẩm – Công ty A chỉ chấp nhận thanh toán 18 triệu đồng tấn
=> Bên công ty B vi phạm nguyên tắc thực hiện hợp đồng.
Theo Điều 297 Luật Thương mại, khi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có thể lựa chọn hoặc yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc lựa chọn các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh. Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Luật Thương mại được đặt ra khi có vi phạm các điều khoản về số lượng, chất lượng hàng hóa yêu cầu kỹ thuật của công việc. Khi bên vi phạm giao hàng thiếu, cung ứng dịch vụ không theo đúng hợp đồng, bên vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải giao đủ hàng, cung ứng dịch vụ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu bên vi phạm giao hàng kém chất lượng , cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên bị vi phạm loại trừ khuyết tật của hàng hóa , thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng.
=> Công ty A có quyền yêu cầu bên B giảm giá do không giao đúng chất lượng hàng hoá theo tho thuận. Mức giá mới dựa trên cơ sở thoả thuận giữa 2 bên.
=> Công ty là không thực hiện hoặc không đang thời gian thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng (vd: giao thay thế hàng đúng chủng loại, chất lượng) thì việc bên B yêu cầu bên A thanh toán theo đúng đơn giá thỏa thuận ban đầu là Không phù hợp với quy định.
– Ngày 17/012018, công ty B giao 70 tấn của đợt 2, công ty A từ chối không nhận do B không báo trước, công ty B không có kho chứa hàng. Đêm đó, mưa to nên 70 tấn hàng bị ướt và hư hỏng hoàn toàn
Khi ký kết hợp đồng, cả 2 bên không thỏa thuận về việc báo trước việc vận chuyển hàng mà chỉ có thoả thuận giao hàng trong vòng 10 ngày kể từ khi ký hợp đồng. Công ty B vẫn giao hàng đúng quy định tại kho của A trong thời hạn 10 ngày.
=> Do đó bên B không vi phạm hợp đồng. Bên A không nhận hàng với lý do không có trong thỏa thuận hợp đồng là hành vi vi phạm nguyên tắc thực hiện hợp đồng.
Và bên B có quyền áp dụng chế tài buộc thực hiện hợp đồng để yêu cầu bên A nhận hàng theo đúng thỏa thuận.
Bên B đã giao hàng đến địa điểm theo thoả thuận hợp đồng với bên A, và bên A không nhận hàng là vi phạm hợp đồng, thì rủi ro về mất mát, hư hỏng hàng hóa được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm hàng hoá thuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng.
=> Do vậy công ty B có quyền yêu cầu công ty A bồi thường thiệt hại đối với lỗ hàng 70 tấn của đợt 2.
– B không tiếp tục giao hàng đợt 3:
Trường hợp bên B nhận thấy bên A vi phạm cơ bản nghĩa vụ của hợp đồng thì bên B có quyền tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng nhưng phải thông báo tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng cho bên A. Trường hợp không thông báo ngay mà gây thiệt hại cho bên A thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại điều 315 Luật Thương mại.
Tuy nhiên trong trường hợp này, công ty B không thông báo và thỏa thuận với công ty A về việc tạm ngừng thực hiện, đình chỉnh hoặc hủy bỏ hợp đồng mà đơn phương không giao hàng đợt 3
=> Công ty B vi phạm hợp đồng.
=> Công ty A có quyền yêu cầu công ty B bồi thường thiệt hại do hành vi không giao hàng đợt 3 gây ra.
Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. Bên A phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.
– Yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng của công ty A:
Trong hợp đồng không có thoả thuận về phạt vi phạm hợp đồng. Đồng thời mức phạt theo quy định là 8% giá trị bị vi phạm.
Do vậy công ty A yêu cầu công ty B phải chịu phạt vi phạm hợp đồng là không phù hợp. Ngoài ra, mức phạt 8% trên giá trị hợp đồng cũng không phù hợp với quy định (lần giao hàng thứ 2 bên B không vi phạm hợp đồng).
1. Tính hợp pháp của thỏa thuận trên:
Ông H làm thành viên của công ty X, tuy nhiên, không có tài sản là tiền hay hiện vật mà thỏa thuận sẽ dùng quyền và uy tín của mình để đảm bảo cho sự hoạt động kinh doanh của công ty do các ông M, N đầu tư.
=> Không hợp pháp, vì:
Theo quy định của Điều 35 – Luật Doanh nghiệp 2014 về Tài sản góp vốn gồm:
1. Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam.
2. Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn.
=> Quyền và uy tín của ông H không phải là quyền sở hữu trí tuệ hay một công nghệ, bí quyết kỹ thuật nào. Tuy nhiên, với quy định mở là tài sản góp vốn có thể là tài sản khác có thể được định giá bằng Đồng Việt Nam, ông H vẫn có thể góp vốn bằng quyền và uy tín khi có sự đồng thuận bằng văn bản của các thành viên sáng lập, thể hiện trong điều lệ công ty về việc góp vốn và các thành viên sẽ tự định giá tài sản bằng số tiền theo đúng trình tự pháp luật quy định.
3. Những rủi ro pháp lý có thể xảy ra khi ông H trở thành thành viên của công ty với những dữ liệu nói trên:
– Rủi ro trong việc định giá tài sản góp vốn:
Theo quy định, tài sản góp vốn có thể là tài sản khác định giả được bằng đồng Việt Nam:
Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam.
Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận.
Quyền và uy tín của ông H không phải quyền sở hữu trí tuệ hay một công nghệ, bí quyết kỹ thuật nào. Do vậy sẽ khó để định giá và dễ xảy ra tranh chấp.
Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.
– Rủi ro về chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn:
Theo quy định Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và cổ đông công ty cổ phần phủ chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ty theo quy định sau đây:
a) Đối với tài sản có đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước;
b) Đối với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản.
c) Cổ phần hoặc phần vốn góp bằng tài sản không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng chỉ được coi là thanh toán xong khi quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã chuyển sang công ty.
Quyền và uy tín của ông H không có đăng ký sở hữu trí tuệ, khi đó sẽ có rủi ro về việc không xác định được quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản góp vốn đã được chuyển sang công ty hay chưa.
Đồng thời khi có rủi ro trong việc xác định hoàn thành việc góp vốn cũng có thể dẫn đến rủi ro bị coi là không góp đủ vốn theo tiến độ cam kết theo quy định.
1. Chủ thể ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với công ty D là ông S.
Ông S thành lập công ty C là công ty TNHH 2 thành viên trở lên, Ông S sẽ chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi tương đương với phần vốn ông đã góp vào công ty. Nếu hợp đồng hợp tác kinh doanh với công ty D không quy định ông S phải thành lập công ty để thực hiện việc hợp tác kinh doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh sẽ được chuyển giao cho công ty do ông S thành lập thì chủ thể ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với D vẫn là ông S. Ông S là người phải chịu trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng.
Do đó việc D yêu cầu C chấm dứt hợp đồng hợp tác kinh doanh và yêu cầu bồi thường là không phù hợp với quy định. Chủ thể mà D phải yêu cầu chấm dứt hợp đồng và yêu cầu bồi thường là ông S, không phải công ty C.
2. Theo quy định tại Điều 118 – Khoản 1 – Luật Doanh nghiệp về Cổ phần ưu đãi hoàn lại và quyền của cổ đông ưu đãi hoàn lại.
Cổ phần ưu đãi hoàn lại là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại.
Trên đây là toàn bộ Đáp án đề thi cpa năm 2020 môn Pháp luật cùng những lý thuyết, cách trình bày phù hợp và lưu ý giúp bạn dễ dàng ăn trọn điểm trong bài thi CPA môn Pháp luật sắp tới. Bên cạnh đó, có một “bí kíp truyền đời” về phương pháp, cách thức ôn thi khoa học, hiệu quả giúp bạn đậu CPA ngay lần thi đầu tiên đã được hầu hết kế kiểm kiểm chứng chính là: Bạn thực sự cần mổ xẻ, phân tích cấu trúc đề thi CPA các năm để lượng thức hóa toàn bộ kiến thức thay vì chỉ hệ thống các dạng bài tập một cách rời rạc.
Đồng thời, bạn cũng có thể tìm đọc giáo trình ôn thi CPA uy tín được hệ thống kiến thức bài bản, bám sát nội dung của Bộ Tài chính và luyện giải đề CPA các năm trong thời hạn cho phép trước kỳ thi. Nhằm nâng cao kiến thức chuyên môn sâu, hiểu thấu bản chất, yêu cầu và tránh các lỗi “mất điểm oan” một cách dễ dàng. Hiểu điều đó, TACA gửi đến bạn trọn bộ Tài liệu ôn thi CPA:
>> Tải ngay: Trọn bộ tài liệu 7 môn CPA – Ôn thi CPA hoàn toàn miễn phí tại đây

Đồng thời, để giúp bạn tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí mà vẫn được tiếp cận lộ trình ôn thi bài bản, phương pháp học thông minh và dễ dàng vượt qua kỳ thi và thành công sở hữu chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế chỉ trong 1 lần thi, TACA gửi đến bạn khóa học:
KHÓA HỌC CPA 2025 – CON ĐƯỜNG DẪN TỚI THÀNH CÔNG TRONG SỰ NGHIỆP
>>Xem thêm:
Taca Certified Professional Accounting,
Tầng 2 Toà A Chelsea Residences, Số 48 Trần Kim Xuyến, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội
Hotline: 0985 611 911
Vincom Đồng Khởi, Quận 1, TP. HCM
Hotline: 0947 511 911