Xin chào các bạn,

Thuế nhà thầu luôn là một sắc thuế rắc rối mà rất ít kế toán biết đến, vì thế mà cũng không biết cách xử lý sao cho đúng. Học viện Taca chia sẻ Những rủi ro Thuế nhà thầu mà Doanh nghiệp Việt Nam thường gặp phải.

Là một sắc thuế khá rắc rối. Tuy nhiên, Taca sẽ cố gắng mổ sẻ nó dưới một góc nhìn dễ hình dung nhất.

Câu hỏi 1: Thuế nhà thầu là gì? khác các loại thuế khác như thế nào?

Các tổ chức nước không thành lập ở Việt Nam, hoặc có các cơ sở thường trú ở Việt Nam, nhưng các tổ chức này trực tiếp (không thông qua cơ sở thường trú) tiến hành các hoạt động cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cho phía Việt Nam và thu được tiền từ việc kinh doanh này thì được coi là có thu nhập phát sinh tại Việt Nam. Và để công bằng với các đơn vị tổ chức hoạt động kinh doanh khác ở Việt Nam, thì mấy ông nước ngoài này phải bị tính thuế. Thế nhưng, khi nào bị tính thuế, khi nào không hoặc nếu chịu thuế thì cách xác định như thế nào, tỷ lệ thuế suất ra sao ?.

Thông tư 103/2014 ngày 6/8/2014 có hiệu lực từ ngày 1/10/2014 ra đời thay thế cho thông tư 06/2012 áp dụng cho giai đoạn trước đó trả lời cho câu hỏi trên.

Bản chất của thuế nhà thầu là Thuế giá trị gia tăng đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ, thuế thu nhập doanh nghiệp đánh trên phần thu nhập của tổ chức nước ngoài.

Tuy nhiên, do đối tượng hướng là các tổ chức nước ngoài dẫn đến sẽ có các quy định đặc thù liên quan đến đối tượng này.

 

Câu hỏi 2: Các đối tượng nào mới phải áp dụng thông tư thuế nhà thầu?

– Các đối tượng áp dụng thuế nhà thầu được nêu cụ thể trong quy định của Thông tư:

+ Đối tượng thứ nhất: Là các tổ chức có phát sinh thu nhập tại Việt nam trên cơ sở hợp đồng, thỏa thuận, cam kết với Bên Việt Nam, hoặc giữa nhà thầu chính nước ngoài và nhà thầu phụ nước ngoài để thực hiện hợp đồng nhà thầu.

Đối tượng này thường hay gặp nhất trong thuế nhà thầu, các tổ chức nước ngoài có hợp đồng ký với VN để cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ, xây dựng cho phía Việt Nam sẽ là đối tượng áp dụng thuế nhà thầu (Việc có chịu thuế hay không tùy từng trường hợp cụ thể). Lưu ý cơ sở để tham chiếu là hợp đồng, thỏa thuận hoặc cam kết.

 

+ Đối tượng thứ hai: nhà thầu nước ngoài cung cấp hàng hóa cho phía Việt Nam theo hình thứ xuất nhập khẩu tại chỗ, tức là Nhà thầu nước ngoài mua của 1 bên Việt Nam, sau đó bán cho 1 bên khác tại Việt Nam, mặc dù hàng không ra khỏi lãnh thổ Việt nam nhưng hoạt động bán hàng của nhà thầu nước ngoài được coi là có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.

-> Như vậy, Doanh nghiệp khi mua hàng theo trường hợp xuất nhập khẩu tại chỗ từ đơn vị nước ngoài phải ghi nhớ trách nhiệm nộp thuế nhà thầu thay cho nhà thầu nước ngoài trừ trường hợp nhà thầu nước ngoài tự khai tự nộp, tránh tình trạng khi cơ quan thuế kiểm tra Doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu khoản phí này.

Một trường hợp khác là bên nước ngoài bán hàng cho phía Việt Nam nhưng các điều kiện giao hàng thì địa điểm giao hàng nằm trong lãnh thổ Việt Nam thì trường hợp này cũng chịu thuế nhà thầu. Các điều kiện giao hàng cần tham chiếu tại Incoterm 2010.

Tương tự trường hợp nêu trên, phía Việt Nam cũng cần đặc biệt lưu ý do sẽ phải kê khai và nộp thay thuế cho phía nước ngoài.

 

+ Đối tượng thứ ba: Các đơn vị tổ chức nước ngoài có hàng hóa bán tại Việt Nam thông qua một kênh phân phối tại Việt Nam. Mà đơn vị phân phối này do bên nước ngoài ủy quyền hoặc do bên nước ngoài thuê. Trong đó, phía nước ngoài vẫn sở hữu hàng hòa, hoặc ấn định giá bán, hoặc chịu các chi phí về phân phối, quảng cáo, tiếp thị, hoặc chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa dịch vụ.

Thì đơn vị nước ngoài vẫn thuộc đối tượng chịu thuế nhà thầu mặc dù không có sự hiện diện tại Việt Nam. Ví dụ như các đơn vị mỹ phẩm của thái bán hàng tại các siêu thị Big C, mặc dù không tổ chức cơ sở tại Việt Nam, nhưng ủy quyền cho Big C độc quyền bán các sản phẩm của mình tại VN mà các đơn vị nước ngoài vẫn là người sở hữu hàng hóa. Thi đơn vị nước ngoài này cũng vẫn sẽ là đối tượng chịu thuế nhà thầu.

 

+ Đối tượng thứ tư: Tổ chức nước ngoài thông qua phía Việt Nam để đàm phán, ký kết hợp đồng mang tên tổ chức, nước ngoài.

Trường hợp này hay gặp Công ty con ký hợp đồng với Công ty ở Việt Nam nhưng tên người thực hiện hợp đồng hoặc bản chất người thực hiện hợp đồng là Công ty mẹ ở nước ngoài.

 

Câu hỏi 3: Có những trường hợp hay đối tượng nào không phải chịu thuế nhà thầu không?

+ Đối tượng thứ nhất: Phía nước ngoài giao hàng đến cửa khẩu của Việt Nam mà hợp đồng không có thực hiện bất kỳ một loại dịch vụ nào khác trừ dịch vụ bảo hành thông thường.

Ở đây có 2 điểm lưu ý:

– Trường hợp phía nước ngoài có thực hiện cung cấp dịch vụ khác ngoài bảo hành kể cả dịch vụ này được miễn phí thì vẫn phải chịu thuế nhà thầu.

– Điều khoản bảo hành phải được quy định ngay trong hợp đồng cung cấp hàng hóa, trong trường hợp bảo hành là 1 hợp đồng riêng biệt thì phải chịu thuế nhà thầu.

 

+ Đối tượng thứ 2: Tổ chức nước ngoài sử dụng kho ngoại quan hoặc cảng nội địa ICD, làm kho hàng để vận chuyển quá cảnh, lưu trữ hàng mà không phải dùng để kinh doanh hay bất kỳ mục đích khác không phải để kho hàng.

 

Câu hỏi 4: Hiểu như thế nào là có thu nhập tại Việt Nam, tiêu dùng tại Việt Nam là gì?

 Trong thông tư thuế nhà thầu, cụm từ “TIÊU DÙNG TẠI VIỆT NAM” được coi là điểm mấu chốt khi xác định một giao dịch có phải chịu thuế nhà thầu hay không? Vì theo thông tư 1 loại hàng hóa hoặc dịch vụ ngay cả được cung cấp ở ngoài Việt Nam nhưng được tiêu dùng tại Việt Nam thì vẫn có rủi ro là phải chịu thuế nhà thầu.

Đã có rất nhiều tranh cãi xung quang đến việc định nghĩa thế nào là tiêu dùng giữa các nhà tư vấn thuế. Thường thì mọi người khá mông lung khi xác định nào thì hàng hóa dịch vụ được gọi tiêu dùng ở Việt Nam đặc biệt là dịch vụ, vì thường dịch vụ tiêu dùng gần như gắn liền với việc cung cấp. Có phải là khi cung cấp xong dịch vụ thì coi như dịch vụ được tiêu dùng hay không? Có trường hợp nào dịch vụ đã cung cấp mà chưa tiêu dùng hay không?

Vì vậy, cụm từ này hiểu như thế nào?

Trước hết, Chúng ta đi vào hiểu thế nào là cung cấp: Cung cấp có 2 loại cung cấp tại Việt Nam và cung cấp ngoài Việt Nam. Đối với hàng hóa địa điểm cung cấp hàng hóa là địa điểm bàn giao hàng hóa, đối với dịch vụ địa điểm cung cấp dịch vụ là địa điểm bên bán thực hiện các nghĩa vụ về các công việc được quy định tại điều khoản hợp đồng hai bên đã ký kết.

Dịch vụ được tiêu dùng là địa điểm dịch vụ thực sự phát huy được các tác dụng của nó. Hiểu một cách đơn giản là nơi mà kết quả của dịch vụ tạo ra giá trị. Bạn hãy tưởng tượng đơn giản như một cái bánh, khi bạn ăn nó mất dần mất dần thì lúc này được gọi là bạn đang tiêu dùng cái bánh. Dịch vụ cũng vậy, nó không vô hạn khi bạn tiêu dùng dần dần lợi ích của nó mang lại thì được gọi là tiêu dùng dịch vụ. (Tiêu dùng chỉ là chuyển đối tượng hưởng thụ lợi ích từ vật chất sang con người)

 

Ví dụ: Công ty mẹ ở nước ngoài thuê 1 công ty kiểm toán ở nước ngoài thực hiện kiểm toán Công ty con ở Việt Nam, chi phí kiểm toán sẽ được Công ty mẹ ở nước ngoài chi trả. Kết quả của cuộc kiểm toán là Báo cáo tài chính đã được kiểm toán, với mục đích ban đầu là báo cáo tài chính để nắm bắt được tình hình tài chính của Công ty con của Việt Nam và nộp cho các cơ quan ban ngành tại Việt Nam.

Kết quả của dịch vụ này là báo cáo tài chính, và lợi ích của việc kiểm toán báo cáo tài chính này là nắm bắt tình hình tài chính của Công ty con tại Việt Nam và phục lục cho Công ty mẹ ra quyết định và nộp cho các cơ quan ban ngành tại Việt Nam.

Lợi ích này được tiêu dùng như thế nào?

Công ty mẹ có được báo cáo tài chính sẽ có được cái nhìn khách quan về tình hình tài chính ở VN để ra các quyết định về tài chính, việc Công ty mẹ đọc báo cáo tài chính sử dụng các thông tin trong báo cáo kiểm toán tức là đang tiêu dùng đang ăn phần lợi ích mà báo cáo kiểm toán mang lại.

Khi Công ty mẹ đọc báo cáo tài chính tức là Công ty mẹ đang tiêu dùng 1 phần lợi ích của BCKT mang lại, lúc này địa điểm tiêu dùng sẽ là ở nước ngoài.

Công ty mẹ sử dụng BCKT để ra các quyết định tài chính ở VN thì Công ty mẹ tiêu dùng lợi ích chủ yếu của BCKT mang lại. Lúc này nơi dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính phát huy tác dụng thực sự của nó là Việt Nam vì vậy địa điểm tiêu dùng là ở Việt Nam.

Và báo cáo tài chính này Công ty dùng để nộp cho đơn vị ban ngành ở VN thì tức là tiêu dùng tại địa điểm Việt Nam.

Như vậy, trong trường hợp này báo cáo tài chính chủ yếu được tiêu dùng ở Việt Nam mặc dù Công ty mẹ thuê và trả tiền trực tiếp.

Đối với dịch vụ kiểm toán này, Công ty kiểm toán phải chịu thuế nhà thầu.

 

Câu 5: Có các trường hợp nào là đặc thù khi xét đến tiêu dùng tại Việt Nam hay không?

 Trong thực tiễn, việc xác định khái niệm như thế nào là Tiêu dùng tại Việt Nam rất khó, vì vậy 103 đưa ra một số trường hợp nhất định chỉ cần dịch vụ này được cung cấp ở nước ngoài thì sẽ không phải chịu thuế nhà thầu, mà không quan tâm đến việc dịch vụ này được tiêu dùng ở đâu:

– Sửa chữa phương tiện vận tải (tàu bay, động cơ tàu bay, phụ tùng tàu bay, tàu biển), máy móc, thiết bị (kể cả đường cáp biển, thiết bị truyền dẫn), có bao gồm hoặc không bao gồm vật tư, thiết bị thay thế kèm theo;

 – Quảng cáo, tiếp thị (trừ quảng cáo, tiếp thị trên internet);

 

Ví dụ 6:

Doanh nghiệp Việt Nam ký hợp đồng với tổ chức ở Singapore để thực hiện dịch vụ quảng cáo sản phẩm tại thị trường Singapore thì dịch vụ quảng cáo này của tổ chức Singapore không thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư. Trường hợp tổ chức ở Singapore thực hiện quảng cáo sản phẩm để tiêu thụ tại thị trường Việt Nam trên internet thì thu nhập từ dịch vụ quảng cáo này thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư.

 – Xúc tiến đầu tư và thương mại;

 Môi giới: bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ ra nước ngoài;

 

Ví dụ 7:

Doanh nghiệp Việt Nam ký hợp đồng thuê doanh nghiệp ở Thái Lan thực hiện dịch vụ môi giới để bán sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường Thái Lan hoặc thị trường thế giới thì dịch vụ môi giới này của doanh nghiệp Thái Lan không thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư; trường hợp doanh nghiệp Việt Nam ký hợp đồng thuê doanh nghiệp ở Thái Lan thực hiện dịch vụ môi giới để chuyển nhượng bất động sản của doanh nghiệp Việt Nam tại Việt Nam thì dịch vụ môi giới này thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư.

 – Đào tạo (trừ đào tạo trực tuyến);

 

Ví dụ 8:

Công ty A ở Việt Nam ký hợp đồng với Trường Đại học B của Singapore để nhân viên Việt Nam sang Singapore học tại Trường Đại học B của Singapore thì dịch vụ đào tạo của Trường Đại học B không thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư; trường hợp Công ty A ở Việt Nam ký hợp đồng với Trường Đại học B của Singapore để trường Đại học B dạy học cho nhân viên Việt Nam tại Việt Nam theo hình thức học trực tuyến thì dịch vụ đào tạo trực tuyến của trường Đại học B thuộc đối tượng áp dụng của Thông tư.

 – Chia cước (cước thanh toán) dịch vụ, viễn thông quốc tế giữa Việt Nam với nước ngoài mà các dịch vụ này được thực hiện ở ngoài Việt Nam, dịch vụ thuê đường truyền dẫn và băng tần vệ tinh của nước ngoài theo quy định của Luật Viễn thông; Chia cước (cước thanh toán) dịch vụ bưu chính quốc tế giữa Việt Nam với nước ngoài theo quy định của Luật Bưu chính, các điều ước quốc tế về Bưu chính mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia ký kết mà các dịch vụ này được thực hiện ở ngoài Việt Nam.

 

Cần thêm bất cứ thông tin gì về Những rủi ro Thuế nhà thầu mà Doanh nghiệp Việt Nam thường gặp phải, TACA rất sẵn lòng giải đáp cho bạn!

Hotline: 0946.511.911

Tải Bộ đề Ôn thi Đại lý thuế 2018

On thi dai ly thue bo de

Bí mật của kỳ thi chứng chỉ hành nghề Đại lý thuế.

Hãy check email của bạn để tải về nhé! Powered by ConvertKit

Bình Luận

Bài viết liên quan