
IAS 39 – Công cụ tài chính: Ghi nhận và đo lường hướng dẫn cách ghi nhận và đo lường các công cụ tài chính, bao gồm tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính. Chuẩn mực này đảm bảo rằng các công cụ tài chính được báo cáo một cách chính xác và minh bạch, giúp các nhà đầu tư và các bên liên quan có thể đưa ra quyết định tài chính hợp lý. Nhờ IAS 39, các tổ chức có thể xác định rõ ràng giá trị hợp lý của các công cụ tài chính, phân loại chúng một cách thích hợp và xử lý các thay đổi giá trị một cách chính xác, đồng thời quản lý rủi ro liên quan đến các công cụ phái sinh và phòng ngừa rủi ro.
Tuy nhiên, việc áp dụng IAS 39 cũng gặp phải nhiều thách thức. Các doanh nghiệp cần phải cẩn trọng trong việc phân loại các công cụ tài chính, xác định giá trị hợp lý, và ghi nhận lãi suất thực một cách chính xác. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có hệ thống kế toán phức tạp và nhân lực có trình độ cao để đảm bảo rằng thông tin tài chính phản ánh đúng thực trạng. Nếu không tuân thủ đúng chuẩn mực hoặc không cung cấp thông tin đầy đủ, doanh nghiệp có thể đối mặt với rủi ro về tính chính xác và minh bạch trong báo cáo tài chính.
Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ các nguyên tắc cơ bản của IAS 39 và cách áp dụng chuẩn mực này một cách hiệu quả, đồng thời cung cấp giải pháp cho những thách thức mà bạn có thể gặp phải trong quá trình thực hiện.
>> Xem thêm:
Mục tiêu của IAS 39 là quy định các nguyên tắc cơ bản cho việc ghi nhận, xác định giá trị của tài sản tài chính, nợ tài chính, và một số hợp đồng mua hoặc bán các hàng hóa, dịch vụ phi tài chính.
IAS 39 áp dụng cho tất cả các loại công cụ tài chính ngoại trừ các loại sau đây nằm ngoài phạm vi của IAS 39:
Lợi ích trong các công ty con, công ty liên kết và liên doanh: Những khoản này được hạch toán theo các chuẩn mực khác như IAS 27 (Báo cáo tài chính hợp nhất và riêng biệt), IAS 28 (Đầu tư vào công ty liên kết) hoặc IAS 31 (Lợi ích trong liên doanh). Đối với các kỳ bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2013 trở đi, các chuẩn mực mới như IFRS 10 (Báo cáo tài chính hợp nhất), IAS 27 (Báo cáo tài chính riêng biệt), và IAS 28 (Đầu tư vào công ty liên kết và liên doanh) được áp dụng. Tuy nhiên, nếu các lợi ích này được hạch toán theo quy định của IAS 39, thì chuẩn mực này vẫn có hiệu lực. Đáng chú ý là các công cụ phái sinh liên quan đến lợi ích trong các công ty này vẫn thuộc phạm vi điều chỉnh của IAS 39.
Chuẩn mực kế toán IAS 39, được phát hành lại vào tháng 12 năm 2003 và có hiệu lực từ kỳ báo cáo hàng năm bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2005, là một chuẩn mực kế toán quan trọng trong việc xử lý các công cụ tài chính. Tuy nhiên, với sự phát triển của thị trường tài chính và nhu cầu cập nhật các phương pháp hạch toán mới, IAS 39 đã dần bộc lộ một số hạn chế trong việc phản ánh chính xác rủi ro tài chính cũng như xác định giá trị hợp lý của tài sản tài chính. Chính vì vậy, IASB đã phát triển và phát hành IFRS 9 để thay thế phần lớn IAS 39 vào năm 2018. IFRS 9 mang tính cải tiến với các nguyên tắc linh hoạt hơn, tập trung vào việc phân loại, đo lường và giảm thiểu tổn thất tín dụng dự kiến, phù hợp hơn với thực tiễn kinh doanh hiện đại. Tuy nhiên, IAS 39 vẫn để lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử kế toán quốc tế, đóng vai trò là nền tảng cho những cải tiến sau này trong lĩnh vực tài chính.
>> Xem thêm: [Tặng miễn phí] Tải ngay bộ tài liệu IAS/IFRS chi tiết, đầy đủ – Cập nhật mới nhất
IAS 39 ghi nhận hai loại nợ phải trả tài chính:
Nợ phải trả tài chính theo giá trị hợp lý thông qua báo cáo lãi lỗ (FVTPL)
Đây là loại nợ phải trả tài chính được ghi nhận theo giá trị hợp lý, và mọi thay đổi trong giá trị hợp lý của chúng đều được ghi nhận trực tiếp vào báo cáo lãi lỗ của công ty. Nợ phải trả tài chính trong danh mục này có hai danh mục phụ:
– Được chỉ định theo giá trị hợp lý thông qua báo cáo lãi lỗ khi ghi nhận ban đầu
Định nghĩa: Nợ phải trả tài chính được đơn vị chủ động chỉ định vào danh mục này khi ghi nhận ban đầu. Đơn vị có thể chỉ định nợ phải trả vào danh mục này nếu việc chỉ định giúp đơn vị loại bỏ hoặc giảm thiểu sự không nhất quán về kế toán, hoặc nếu nợ phải trả thuộc một danh mục được quản lý trên cơ sở giá trị hợp lý.
Việc chỉ định nợ phải trả vào danh mục này phải có cơ sở hợp lý, ví dụ: khi nó liên quan đến các công cụ tài chính mà đơn vị quản lý theo giá trị hợp lý. Lợi ích của việc chỉ định là giúp đồng bộ với cách đo lường và quản lý các công cụ tài chính khác, và giúp giảm bớt bất kỳ sự không nhất quán nào về kế toán.
– Nắm giữ cho mục đích kinh doanh
Định nghĩa: Nợ phải trả tài chính được phân loại là nắm giữ cho mục đích kinh doanh, như nghĩa vụ đối với chứng khoán vay để bán khống, phải hoàn trả lại trong tương lai.
Các nợ phải trả này thường có tính thanh khoản cao và có thể được hoàn trả trong tương lai gần. Việc phân loại chúng là “nắm giữ cho mục đích kinh doanh” chủ yếu do động cơ ngắn hạn, và chúng phải được đo lường theo giá trị hợp lý với bất kỳ thay đổi nào ghi nhận trong báo cáo lãi lỗ. Ví dụ: Một ngân hàng đầu tư có thể vay chứng khoán từ một bên khác để bán khống. Nghĩa vụ phải trả lại chứng khoán này sẽ được phân loại là “nắm giữ cho mục đích kinh doanh”, và giá trị của nghĩa vụ này sẽ thay đổi tùy theo giá thị trường của chứng khoán.
Nợ phải trả tài chính khác được đo lường theo giá trị được phân bổ bằng phương pháp lãi suất thực.
Loại nợ phải trả này không được đo lường theo giá trị hợp lý mà được đo lường theo giá trị được phân bổ bằng phương pháp lãi suất thực. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ghi nhận nợ phải trả tài chính theo giá trị ban đầu (sau khi trừ các khoản giảm giá hoặc chi phí phát sinh), và sau đó sử dụng phương pháp lãi suất thực để tính toán chi phí lãi vay trong suốt thời gian của nợ phải trả đó.
Lãi suất thực là lãi suất mà tại đó giá trị hiện tại của dòng tiền dự kiến (từ việc thanh toán lãi suất và hoàn trả nợ gốc) sẽ tương đương với giá trị ghi sổ ban đầu của nợ phải trả.
Mục đích: Việc sử dụng phương pháp lãi suất thực nhằm phản ánh chính xác hơn chi phí lãi vay trong báo cáo tài chính, và giúp đo lường giá trị của nợ phải trả qua thời gian một cách hiệu quả.
Danh mục nợ phải trả tài chính theo giá trị hợp lý thông qua báo cáo lãi lỗ có hai danh mục phụ:
IAS 39 yêu cầu tài sản tài chính phải được phân loại theo một trong các danh mục sau:
Các danh mục này được sử dụng để xác định cách thức ghi nhận và đo lường một tài sản tài chính cụ thể trong báo cáo tài chính.
Tài sản tài chính theo giá trị hợp lý thông qua lãi hoặc lỗ. Danh mục này có hai danh mục phụ:
>> Xem thêm:
Tài sản tài chính sẵn sàng để bán (AFS) là bất kỳ tài sản tài chính phi phái sinh nào được chỉ định khi ghi nhận ban đầu là sẵn sàng để bán hoặc bất kỳ công cụ nào khác không được phân loại là các khoản cho vay và phải thu, các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn hoặc tài sản tài chính theo giá trị hợp lý thông qua báo cáo lãi lỗ.
Tài sản AFS được đo lường theo giá trị hợp lý trong bảng cân đối kế toán. Các thay đổi giá trị hợp lý của tài sản AFS được ghi nhận trực tiếp vào vốn chủ sở hữu, thông qua báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu, ngoại trừ lãi trên tài sản AFS (được-ghi nhận vào thu nhập trên cơ sở tỷ suất thực), tổn thất do suy giảm giá trị và (đối với các công cụ nợ AFS gánh chịu rủi ro lãi suất) lãi hoặc lỗ do chênh lệch tỷ giá. Lãi hoặc lỗ lũy kế mà được ghi nhận trong vốn chủ sở hữu, sẽ được ghi nhận vào báo cáo lãi lỗ khi tài sản tài chính sẵn sàng để bán bị dừng ghi nhận.
Khoản cho vay và nợ phải thu là các tài sản tài chính phi phái sinh với các khoản thanh toán cố định hoặc có thể xác định được mà không được niêm yết trên thị trường sôi động, không phải nắm giữ cho mục đích kinh doanh hoặc được chỉ định khi ghi nhận ban đầu là tài sản theo giá trị hợp lý thông qua báo cáo lãi lỗ hoặc sẵn sàng để bán. Khoản cho vay và nợ phải thu mà bên nắm giữ có thể không thu hồi được đáng kể toàn bộ khoản đầu tư ban đầu, ngoại trừ do suy giảm chất lượng tín dụng, nên được phân loại là sẵn sàng để bán. Khoản cho vay và nợ phải t được đo lường theo giá trị được phân bổ.
Khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn là các tài sản tài chính phi phái sinh với các khoản thanh toán cố định hoặc có thể xác định được mà đơn vị dự định và có khả năng giữ đến ngày đáo hạn và không đáp ứng định nghĩa về khoản cho vay và nợ phải thu và không được chỉ định khi ghi nhận ban đầu là tài sản theo giá hợp lý giá trị thông qua báo cáo lãi lỗ hoặc sẵn sàng để bán.
Khoản đầu tư giữ đến ngày đáo hạn được đo lường theo giá trị được phân bổ. Nếu đơn vị bán một khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn với số lượng đáng kể hoặc do hậu quả của một sự kiện không lặp lại, biệt lập nằm ngoài tầm kiểm soát của đơn vị mà không thể dự đoán trước một cách hợp lý, thì tất cả các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn khác của đơn vị đó phải được được tái phân loại là sẵn sàng để bán cho năm báo cáo tài chính hiện tại và hai năm tiếp theo. Các khoản đầu tư nắm giữ đến. ngày đáo hạn được đo lường theo giá trị được phân bố.
Phân loại một công cụ tài chính là nợ phải trả hay vốn chủ sở hữu là yếu tố quan trọng trong báo cáo tài chính, đặc biệt trong bối cảnh IAS 39 chỉ quy định về nợ phải trả tài chính và không đề cập đến việc xử lý các công cụ vốn chủ sở hữu.
Việc phân loại đúng đắn quyết định bản chất của công cụ tài chính và ảnh hưởng trực tiếp đến:
Dù IAS 39 không quy định về công cụ vốn, IAS 32 đưa ra tiêu chí phân loại:
Các công cụ như cổ phiếu ưu đãi có thể có đặc tính kép, vừa mang tính chất của nợ phải trả, vừa mang tính chất vốn chủ sở hữu, nên cần phân tích kỹ các điều khoản hợp đồng để phân loại phù hợp.
-Một trong những thách thức lớn khi áp dụng IAS 39 là việc phân loại chính xác các công cụ tài chính. Chuẩn mực này yêu cầu phân loại các công cụ thành các nhóm như FVTPL (giá trị hợp lý thông qua lãi hoặc lỗ), HTM (đầu tư giữ đến ngày đáo hạn), AFS (tài sản tài chính sẵn sàng để bán), và khoản cho vay và phải thu. Mỗi nhóm có các quy tắc ghi nhận và đo lường riêng, nếu phân loại không chính xác có thể dẫn đến sai lệch trong báo cáo tài chính. Do đó, doanh nghiệp cần thận trọng khi phân tích và áp dụng đúng quy định để tránh nhầm lẫn và sai sót.
-IAS 39 yêu cầu doanh nghiệp sử dụng phương pháp lãi suất thực để ghi nhận và đo lường các khoản vay và nợ phải trả tài chính. Phương pháp này yêu cầu tính toán lãi suất thực tế bằng cách phân bổ chi phí giao dịch và bất kỳ khoản giảm giá hoặc thặng dư nào trên thời gian của công cụ tài chính. Việc này đòi hỏi doanh nghiệp phải có hệ thống kế toán phức tạp và nhân viên kế toán có kỹ năng cao, điều này có thể là một thách thức đối với các doanh nghiệp không có đủ nguồn lực tài chính và nhân sự.
-IAS 39 chỉ cho phép phân loại lại tài sản tài chính trong một số trường hợp rất hạn chế, điều này làm giảm tính linh hoạt của doanh nghiệp trong việc điều chỉnh danh mục đầu tư tài chính. Ví dụ, một doanh nghiệp không thể dễ dàng chuyển đổi tài sản từ danh mục HTM sang AFS nếu có sự thay đổi lớn trong chiến lược đầu tư hoặc tình hình thị trường. Điều này có thể làm cho doanh nghiệp phải giữ lại các tài sản mà không còn phù hợp với mục tiêu quản lý tài chính hiện tại.
Mặc dù Chuẩn mực kế toán số 39 được chỉnh sửa nhiều lần nhưng vẫn bị đánh giá là quá phức tạp, khó tiếp cận và khó áp dụng vào thực tiễn. Bên cạnh đó là bối cảnh sau khi khủng hoảng tài chính thế giới xảy ra, Hội đồng ổn định tài chính (Financial Stability Board) cho rằng có mối liên quan giữa khủng hoảng tài chính và kế toán công cụ tài chính, tập trung ở phân loại và đo lường công cụ tài chính. Trước tình trạng đó vào tháng 4 năm 2009, IASB chính thức xúc tiến xây dựng một Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế mới nhằm thay thế IAS 39.
>>Xem thêm:
| Tiêu chí | IAS 39 | IFRS 9 |
| Phân loại tài sản | Tài sản tài chính theo giá trị hợp lý thông qua kết quả kinh doanh.
Các khoản đầu tư tài chính giữ đến ngày đáo hạn. Các khoản vay và các khoản phải thu. Tài sản tài chính sẵn sàng để bán. |
Tài sản tài chính sau đó được ghi nhận theo giá gốc phân bổ;
Tài sản tài chính sau đó được ghi nhận theo giá trị hợp lý. |
| Trích lập dự phòng | Chỉ trích lập dự phòng cho các tổn thất đã phát sinh theo quy định trong chuẩn mực IAS 39. | Trích lập dự phòng cho các khoản tổn thất tín dụng trong tương lai theo phương pháp ECL. |
Số lượng nhóm TSTC ít hơn
Mục tiêu quan trọng khi xây dựng IFRS mới để thay thế IAS 39 mà IASB đặt ra đó chính là sự đơn giản hóa trong ghi nhận, đo lường công cụ tài chính. Cụ thể hơn thì chính là sự đơn giản và rõ ràng hơn trong phân loại TSTC.
Trong khi IAS 39 phân loại TSTC thành 4 nhóm (TSTC sẵn sàng để bán, TSTC kinh doanh, TSTC giữ đến đáo hạn, TSTC lựa chọn đo lường theo giá trị hợp lý) thì IFRS 9 đã tối ưu lại còn 2 nhóm được đo lường theo nguyên giá phân bổ và đo lường theo giá trị hợp lý như sơ đồ sau:

Sơ đồ: Sắp xếp lại các nhóm TSTC từ phân loại theo IAS 39 sang phân loại theo IFRS 9
Như vậy hầu hết các TSTC giữ đến đáo hạn, TSTC cho vay và phải thu, TSTC sẵn sàng để bán là công cụ nợ theo IAS 39 được chuyển vào nhóm đo lường theo nguyên giá phân bổ chỉ trừ một số các tài sản được doanh nghiệp lựa chọn đo lường theo FVPL.
Còn các TSTC kinh doanh và TSTC sẵn sàng để bán là công cụ vốn được sắp xếp vào nhóm đo lường theo giá trị hợp lý .
Cơ sở phân loại TSTC đơn giản và rõ ràng hơn
Trong khi IAS 39 đưa ra nhiều tiêu chí khi sắp xếp TSTC vào 4 nhóm khác nhau thì IFRS 9 quy định các tiêu chí riêng khi sắp xếp TSTC vào ba nhóm TSTC kinh doanh hay đo lường theo FVPL, cho vay và phải thu và TSTC giữ đến đáo hạn. Như vậy các TSTC không thỏa mãn tiêu chí của 3 nhóm này sẽ được xếp vào nhóm thứ 4 là TSTC sẵn sàng để bán.
Thì IFRS 9 chỉ đưa ra các yêu cầu cụ thể với các TSTC sẽ được xếp vào nhóm đo lường theo nguyên giá phân bổ và các TSTC còn lại được xếp vào nhóm đo lường theo giá trị hợp lý ( trừ khi là trường hợp là lựa chọn đo lường theo giá trị hợp lý của doanh nghiệp ngay từ ghi nhận ban đầu).
IAS 39 còn đòi hỏi các doanh nghiệp cần xem xét tính đáng tin cậy của giá trị hợp lý, tình trạng niêm yết các TSTC. Ví dụ như các TSTC là công cụ nợ có bản chất các luồng tiền theo hợp đồng như nhau nhưng lại được xếp vào nhóm giữ đến đáo hạn hay cho vay, phải thu là do công cụ đó đã được niêm yết hay chưa. Các công cụ vốn được xếp vào nhóm sẵn sàng để bán nhưng có thể được đo lường theo giá trị hợp lý hay giá gốc thì lại tùy thuộc vào tính đáng tin cậy khi đo lường tài sản theo giá trị hợp lý.
Việc thống nhất cơ sở đo lường cho các TSTC được xếp vào một nhóm của IFRS 9 giúp cho kế toán TSTC đơn giản hơn so với IAS 39 đã sử dụng mô hình đo lường hỗn hợp áp dụng để bán có thể được đo lường hỗn hợp áp dụng cho các TSTC trong cùng 1 nhóm.
Hạn chế tái phân loại TSTC
Chính vì số lượng nhóm TSTC ít hơn và cơ sở để phân loại đơn giản hơn nên IFRS 9 sẽ hạn chế tái phân loại TSTC so với IAS 39. Theo IFRS 39 việc tái phân loại chỉ thực hiện giữa các TSTC đo lường theo nguyên giá phân bổ FVPL và FVPL khi mô hình kinh doanh của doanh nghiệp thay đổi.
Trong khi IAS 39 yêu cầu các hợp đồng ghép có hợp đồng cơ sở đều phải xem xét các điều kiện để tách công cụ phái sinh chìm ra khỏi hợp đồng chủ thì IFRS 9 xem toàn bộ hợp đồng ghép như một TSTC thống nhất nếu hợp đồng chủ thuộc phạm vi của chuẩn mực, tức không tách công cụ phái sinh chìm làm thay đổi các luồng tiền của hợp đồng chủ và khiến cho hợp đồng này không đủ điều kiện đo lường theo nguyên giá phân bổ thì xếp vào vào nhóm đo lường theo giá trị hợp lý.
IAS 39 có nhiều lựa chọn trong đo lường các TSTC hơn IFRS 9. Cụ thể với IAS 39 các TSTC được đo lường theo cả nguyên giá phân bổ, giá trị hợp lý và giá gốc thì IFRS 9 quy định sau khi ghi nhận ban đầu TSTC hoặc đo lường theo nguyên giá phân bổ hoặc theo giá trị hợp lý.
Nếu IAS 39 xem xét về tổn thất các TSTC đo lường theo giá gốc và nguyên giá phân bổ thì IFRS 9 chỉ xem xét đối với các tài sản đo lường theo nguyên giá phân bổ.
Để nghiên cứu sâu hơn các vấn đề được đề cập trong IAS 39 – Công cụ tài chính: Ghi nhận và đo lường (Financial Instruments: Recognition and Measurement) mời bạn tham khảo tài liệu sau:
– Tài liệu Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 – Financial Instruments: Recognition and Measurement(Tiếng Anh)
>> Tải ngay: Trọn bộ tài liệu Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) & Chuẩn mực tế toán quốc tế (IFRS) tại đây:
Như vậy, bài viết trên đã giúp bạn hiểu rõ bản chất chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 – Ghi nhận và đo lường giúp doanh nghiệp ghi nhận, phân loại, đo lường và xử lý kế toán cho các công cụ tài chính, bao gôm tài sản tài chính và nợ phải trả tài chính. Tuy nhiên, trước bối cảnh phần lớn doanh nghiệp Việt “buộc phải” áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS, đã và đang “rục rịch” chuyển đổi báo cáo từ VAS sang IFRS. Nhiều kế toán tỏ ra “lúng túng” khi không biết phải xử lý báo cáo tài chính như thế nào cho chuẩn chỉnh và bài bản, nhiều bạn muốn nắm bắt cơ hội làm việc tại các tập đoàn đa quốc gia nhưng lại phải “ngậm ngùi” nhường cơ hội cho người khác vì không nắm rõ phương pháp, quy trình chuyển đổi báo cáo tài chính như nào cho đúng?
Hiểu rõ điều đó, TACA tổ chức Khóa học chuyển đổi báo cáo tài chính từ VAS sang IFRS nhằm hướng dẫn học viện thực hành chuyển đổi báo cáo tài chính chuẩn chỉnh nhờ thấu hiểu bản chất, nguyên lý từng chuẩn mực kế toán, nắm chắc các bút toán điều chỉnh cho giao dịch theo hệ thống chuẩn mực IFRS, am tường cách thức chuyển đổi các khoản mục quan trọng trên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và thành thạo lập, trình bài báo cáo tài chính riêng lẻ, báo cáo tài chính hợp nhất theo IFRS… nắm chắc công cụ chuyển đổi báo cáo tài chính theo nhu cầu từng doanh nghiệp cụ thể.
>> Tham khảo ngay khóa học Chuyển đổi báo cáo tài chính VAS sang IFRS tại đây:
Với đội ngũ giảng viên là các trưởng phòng cấp cao/ giám đốc chuyên môn tại các đơn vị hàng đầu, các tập đoàn kinh tế lớn nhiều năm áp dụng IFRS thành công. Chúng tôi cam kết truyền đạt toàn bộ kiến thức cốt lõi, các thông tin cập nhật mới nhất và cả những ví dụ, kinh nghiệm, kỹ năng thực tế giúp bạn dễ dàng: Am tường bản chất của từng chuẩn mực IFRS quan trọng, nâng cao khả năng phân tích sự khác biệt giữa VAS và IFRS trong việc lập, trình bày báo cáo tài chính; nắm rõ phương pháp, quy trình chuyển đổi báo cáo tài chính (BCTC) từ VAS sang IFRS, cũng như chủ động xây dựng chương trình chuyển đổi VAS sang IFRS theo nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp.
>> Đặc biệt, để sở hữu chứng chỉ Báo cáo tài chính quốc tế CertIFR, DipIFR danh giá nhằm khẳng định năng lực cũng như dọn đường cho sự thăng tiến vượt bậc trong sự nghiệp kế kiểm toàn cầu. Mời bạn tham khảo trọn bộ khóa học Chuẩn mực chứng chỉ lập Báo cáo Tài chính quốc tế tại đây:
Taca International Certificate,
Tầng 2 Toà A Chelsea Residences, Số 48 Trần Kim Xuyến, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội
Hotline: 0985 611 911
Vincom Đồng Khởi, Quận 1, TP. HCM
Hotline: 0947 511 911