
So sánh IAS 10 và VAS 23 là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực kế toán, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực hội nhập vào hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế. Các sự kiện phát sinh sau kỳ báo cáo đóng một vai trò thiết yếu trong việc đảm bảo rằng báo cáo tài chính phản ánh chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp. Với việc IAS 10 quy định cách thức ghi nhận và tiết lộ các sự kiện này, trong khi VAS 23 cung cấp một cách tiếp cận tương tự nhưng với những khác biệt nhất định, việc hiểu rõ cả hai chuẩn mực sẽ giúp các kế toán viên và doanh nghiệp Việt Nam thực hiện chuyển đổi báo cáo tài chính một cách hiệu quả.
Trong bối cảnh các doanh nghiệp ngày càng chú trọng vào sự minh bạch và chuẩn hóa báo cáo tài chính, việc nắm vững những điểm tương đồng và khác biệt giữa IAS 10 và VAS 23 không chỉ giúp cải thiện chất lượng báo cáo mà còn giảm thiểu rủi ro pháp lý và tài chính. Bài viết này sẽ mang đến cái nhìn chi tiết về các quy định liên quan đến sự kiện phát sinh sau kỳ báo cáo, đồng thời đề xuất những giải pháp thiết thực giúp các doanh nghiệp dễ dàng áp dụng các quy định mới một cách hiệu quả và chính xác.
>> Xem thêm:
IAS 10 được ban hành lần đầu bởi Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASC) năm 1978 với mục đích hướng dẫn cách xử lý các sự kiện phát sinh toán báo cáo nhưng trước khi phát hành báo cáo tài chính.
Tháng 12 năm 2003, Sau khi Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASC) chuyển đổi thành Ủy ban Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IASB), IAS 10 được tái ban hành với những sửa đổi nhằm phù hợp hơn với các yêu cầu quốc tế trong hệ thống chuẩn mực IFRS.
Hiện tại IAS 10 tiếp tục được áp dụng rộng rãi và là một phần của hệ thống IFRS tại nhiều quốc gia trên toàn thế giới.
VAS 23 được ban hành bởi Bộ Tài chính Việt Nam vào năm 2004, dựa trên IAS 10, nhằm xây dựng khung pháp lý cho ghi nhận các sự kiện phát sinh sau kỳ báo cáo phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
>> Xem thêm:
| Tiêu chí | IAS 10 | VAS 23 |
| Mục đích | Mục đích của chuẩn mực này là quy định về hướng dẫn:
– Các trường hợp doanh nghiệp phải điều chỉnh báo cáo tài chính sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm – Công bố về ngày phát hành báo cáo tài chính và các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm. |
Quy định và hướng dẫn các trường hợp DN phải điều chỉnh BCTC, các nguyên tắc và phương pháp điều chỉnh BCTC khi có những sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm để giải trình về ngày phát hành BCTC và các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm. |
| Đánh giá | Nhìn chung thì mục đích của IAS 10 và VAS 23 đều đưa ra các quy định và hướng dẫn DN trong các trường hợp phải điều chỉnh BCTC khi có những sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm và có những giải trình cần thiết.
Cả hai Chuẩn mực đều quy định các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm không phù hợp với nguyên tắc hoạt động liên tục thì doanh nghiệp không được lập BCTC trên cơ sở hoạt động liên tục. |
|
| Ghi nhận và xác định | – Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm cần điều chỉnh: Các DN phải điều chỉnh các số liệu đã được ghi nhận trong báo cáo tài chính để phản ánh các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm cần điều chỉnh.
– Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm không cần điều chỉnh: DN không phải điều chỉnh các số liệu đã ghi nhận trong BCTC để phản ánh các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm không cần điều chỉnh. >> Ví dụ: Giảm giá trị thị trường của các khoản đầu tư vốn góp liên doanh, các khoản đầu tư vào công ty liên kết. Nếu giá trị thị trường của một khoản đầu tư vào một công ty liên doanh hoặc công ty liên kết giảm đáng kể trong khoảng thời gian từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm đến ngày phát hành báo cáo tài chính, doanh nghiệp cần điều chỉnh số liệu trong báo cáo tài chính để phản ánh giá trị thực tế này. Sự điều chỉnh này là cần thiết để đảm bảo báo cáo tài chính không bị sai lệch, do việc giảm giá trị này phản ánh các điều kiện đã tồn tại tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán năm. – Nếu cổ tức được đề xuất hoặc được công bố sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm, doanh nghiệp không phải ghi nhận các khoản cổ tức này như là các khoản nợ phải trả trên Bảng cân đối kế toán tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm nhưng phải thuyết minh về sự kiện này. Phải trình bày trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính, theo IAS 1 “Presentation of Financial Statements” của IAS 10, và theo chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày báo cáo tài chính” của VAS 23. – Hoạt động liên tục: Nếu Ban Giám đốc xác nhận sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm có dự kiến giải thể doanh nghiệp, ngừng sản xuất kinh doanh, thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động hoặc phá sản thì doanh nghiệp không được lập báo cáo tài chính trên cơ sở nguyên tắc hoạt động liên tục. |
|
>> Xem thêm:
Những thông tin được doanh nghiệp DN công bố trên các BCTC đóng vai trò vô cùng to lớn, đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội và có ảnh hưởng không chỉ đối với các nhà đầu tư, các chủ sở hữu của DN mà cả các cơ quan quản lý Nhà nước, ngân hàng, các tổ chức tín dụng và cả chính các nhà quản trị DN.
BCTC cung cấp thông tin thiết yếu cho các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc thực hiện chức năng quản lý vĩ mô và kiểm soát. Đối với nhà đầu tư, chủ nợ và người cho vay, thông tin trên BCTC giúp họ giám sát nhà quản trị và đưa ra quyết định đầu tư, cho vay hoặc cho thuê. Đối với nhà quản trị DN, BCTC thuyết phục nhà đầu tư và chủ nợ về lợi nhuận cao với rủi ro thấp, đồng thời hỗ trợ trong việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chính vì vậy, việc công bố thông tin trên các BCTC một cách trung thực, hợp lý và đầy đủ là trách đủ trách nhiệm của DN không chỉ đối với cơ quan quản lý Nhà nước mà còn là đối với các nhà đầu tư hiện tại và tương lai, các chủ nợ, người cho vay, cho thuê. Tuy nhiên, môi trường kinh doanh luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro bất ngờ ngoài dự kiến. DN trong quá trình hoạt động luôn phải chịu nhiều yếu tố tác động cả khách quan và chủ quan. Trong khi đó, thông tin được DN công bố trên các BCTC lại chỉ có tính chất thời điểm hoặc thời kỳ.
Mục tiêu chính của IAS 10 và VAS 23, là đưa ra các quy định và hướng dẫn cho DN cách trình bày và công bố bổ sung những sự kiện phát sinh, từ sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm đến trước ngày phát hành BCTC. Nhằm giúp cho BCTC của DN sẽ phản ánh được một cách trung thực, hợp lý và đầy đủ hơn tình hình kinh doanh của DN tại thời điểm DN phát hành BCTC ra công chúng chứ không chỉ phản ánh tình hình tài sản, nguồn vốn và kết quả kinh doanh của DN trong kỳ lập báo cáo. IAS 10 và VAS 23 giúp phần nào loại trừ độ trễ của những thông tin tài chính được DN công bố, trong thời gian lập báo cáo đặc biệt là những thông tin trọng yếu.
Ý nghĩa của 2 Chuẩn mực được thể hiện rõ nhất trong bối cảnh Covid 19 diễn ra trong những ngày tháng đầu năm 2022. Dịch bệnh này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Những DN bị tác động nghiêm trọng đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh bởi dịch Covid-19 thì cần tìm hiểu kỳ các quy định và hướng dẫn của IAS 10 và VAS 23 để thực hiện điều chỉnh hoặc trình bày bổ sung những thông tin có ảnh hưởng trọng yếu trên các BCTC của mình.
Ví dụ – Một số sự kiện cần điều chỉnh hoặc không cần điều chỉnh nhưng phải trình bày trên BCTC do tác động của dịch Covid-19, trong Quý 1/2020.
Trường hợp các sự kiện cần điều chỉnh: Những sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc kỳ báo cáo, khiến DN phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động hoặc phá sản. Theo Báo cáo đánh giá, bổ sung tình hình kinh tế – xã hội Quý I và dự báo thời gian còn lại của năm 2020, được Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư ký vào chiều ngày 06/04/2020, Covid-19 khiến 34.900 DN đóng cửa, giải thể, phá sản trong Quý 1/2020.
Theo IAS 10 và VAS 23, những DN này buộc phải điều chỉnh cơ sở lập BCTC, của năm 2019. Lúc này giả định hoạt động liên tục không còn phù hợp, do vậy DN sẽ phải thay đổi cơ sở lập BCTC áp dụng cho các DN không hoạt động liên tục.
Trường hợp các sự kiện không cần điều chỉnh nhưng cần trình bày trên BCTC: Công bố kế hoạch ngừng hoạt động (Theo Báo cáo đánh giá, bổ sung tình hình kinh tế – xã hội Quý I và dự báo thời gian còn lại của năm 2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, có 18.596 DN đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn trong Quý 1/2020 (tăng 26% so với năm 2019).
Như vậy, những DN này phải công bố kế hoạch ngừng hoạt động của mình trong phần thuyết minh BCTC của năm 2019, theo quy định của IAS 10 và VAS 23.
>> Tìm hiểu thêm:
| Nội dung so sánh | IAS 10 | VAS 23 |
| Ngày phát hành BCTC | Thông thường là ngày Hội đồng quản trị của DN phê duyệt phát hành Báo cáo (thậm chí có thể trước ngày có sự phê duyệt của các cổ đông và Ban kiểm soát) | Doanh nghiệp phải trình bày ngày phát hành BCTC và người quyết định phát hành (Giám đốc DN, Giám đốc tài chính hoặc là kế toán trưởng) gửi đến các bên liên quan.
Nếu chủ sở hữu DN hoặc người khác có thẩm quyền yêu cầu sửa đổi BCTC trước khi phát hành, DN phải trình bày việc này. |
| Ngày phê duyệt phát hành |
IAS 10 quy định các yêu cầu về thời điểm điều chỉnh các sự kiện phát sinh sau kỳ báo cáo trong báo cáo tài chính. Các sự kiện này được phân loại như sau:
IAS 10 cũng cung cấp hướng dẫn về việc xác định ngày báo cáo tài chính được phê duyệt phát hành. Ngày này phụ thuộc vào cơ cấu quản lý, yêu cầu pháp lý và các quy trình chuẩn bị và hoàn thiện báo cáo tài chính.
Trong trường hợp có thông báo công khai một phần, các sự kiện phát sinh sau kỳ báo cáo bao gồm tất cả các sự kiện xảy ra cho đến ngày báo cáo tài chính được phê duyệt phát hành, ngay cả khi những sự kiện này xảy ra sau khi đã công khai thông tin về lợi nhuận hoặc các thông tin tài chính đã chọn lọc khác. |
VAS 23 dựa trên phiên bản trước của IAS 10. VAS không đề cập đến việc xác định ngày báo cáo tài chính được phê duyệt phát hành theo các cơ cấu quản lý và quy trình khác nhau.
VAS 23 nêu rõ rằng ngày phát hành là ngày người đứng đầu của đơn vị báo cáo (hoặc người được ủy quyền) phê duyệt việc phát hành báo cáo tài chính cho các bên bên ngoài. |
| Sự kiện cần điều chỉnh sau kỳ báo cáo | Phân chia lợi nhuận hoặc thanh toán các khoản tiền thưởng được xem là sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm cần điều chỉnh nếu doanh nghiệp có trách nhiệm pháp lý hoặc trách nhiệm liên đới tại ngày kết thúc kỳ kế toán buộc phải thực hiện các khoản thanh toán theo kết quả của sự kiện trước ngày đó. | Không đề cập |
| Khoản dự phòng | Yêu cầu doanh nghiệp điều chỉnh khoản dự phòng liên quan đến một vụ kiện đã được ghi nhận trước đây (được giải quyết sau ngày báo cáo tài chính) theo chuẩn mực IAS 37 hoặc ghi nhận khoản dự phòng mới.
Ví dụ: Nếu một doanh nghiệp phải lập dự phòng cho một vụ kiện xảy ra trước ngày 31 tháng 12 năm 2023 (ngày kết thúc kỳ kế toán) với số tiền dự phòng là 500.000.000 VND. Sau đó, trước khi báo cáo tài chính được phát hành, doanh nghiệp nhận được phán quyết cuối cùng từ tòa án, xác định rằng số tiền phải trả là 700.000.000 VND. Theo chuẩn mực IAS 10, doanh nghiệp phải thực hiện bút toán điều chỉnh để ghi nhận thêm 200.000.000 VND chi phí vào báo cáo tài chính, nhằm phản ánh chính xác nghĩa vụ tài chính thực tế vào thời điểm lập báo cáo. |
Chấp nhận các khoản phải thu hoặc khoản phải trả mới không phải là các khoản dự phòng có liên quan nêu trên. |
Như vậy, bài viết trên đã “vạch trần” những khác biệt cốt lõi giữa IAS 10 và VAS 23 về các sự kiện phát sinh sau kỳ báo cáo mang lại cái nhìn sâu sắc về cách thức ghi nhận và báo cáo các sự kiện tài chính trong bối cảnh kế toán quốc tế và Việt Nam. Tuy nhiên, trước bối cảnh phần lớn doanh nghiệp Việt “buộc phải” áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS, đã và đang “rục rịch” chuyển đổi báo cáo từ VAS sang IFRS. Nhiều kế toán tỏ ra “lúng túng” khi không biết phải xử lý báo cáo tài chính như thế nào cho chuẩn chỉnh và bài bản, nhiều bạn muốn nắm bắt cơ hội làm việc tại các tập đoàn đa quốc gia nhưng lại phải “ngậm ngùi” nhường cơ hội cho người khác vì không nắm rõ phương pháp, quy trình chuyển đổi báo cáo tài chính như nào cho đúng?
Hiểu rõ điều đó, TACA tổ chức Khóa học chuyển đổi báo cáo tài chính từ VAS sang IFRS nhằm hướng dẫn học viện thực hành chuyển đổi báo cáo tài chính chuẩn chỉnh nhờ thấu hiểu bản chất, nguyên lý từng chuẩn mực kế toán, nắm chắc các bút toán điều chỉnh cho giao dịch theo hệ thống chuẩn mực IFRS, am tường cách thức chuyển đổi các khoản mục quan trọng trên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và thành thạo lập, trình bài báo cáo tài chính riêng lẻ, báo cáo tài chính hợp nhất theo IFRS… nắm chắc công cụ chuyển đổi báo cáo tài chính theo nhu cầu từng doanh nghiệp cụ thể.
>> Tham khảo ngay khóa học Chuyển đổi báo cáo tài chính VAS sang IFRS tại đây:
Với đội ngũ giảng viên là các trưởng phòng cấp cao/ giám đốc chuyên môn tại các đơn vị hàng đầu, các tập đoàn kinh tế lớn nhiều năm áp dụng IFRS thành công. Chúng tôi cam kết truyền đạt toàn bộ kiến thức cốt lõi, các thông tin cập nhật mới nhất và cả những ví dụ, kinh nghiệm, kỹ năng thực tế giúp bạn dễ dàng: Am tường bản chất của từng chuẩn mực IFRS quan trọng, nâng cao khả năng phân tích sự khác biệt giữa VAS và IFRS trong việc lập, trình bày báo cáo tài chính; nắm rõ phương pháp, quy trình chuyển đổi báo cáo tài chính (BCTC) từ VAS sang IFRS, cũng như chủ động xây dựng chương trình chuyển đổi VAS sang IFRS theo nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp.
>> Đặc biệt, để sở hữu chứng chỉ Báo cáo tài chính quốc tế CertIFR, DipIFR danh giá nhằm khẳng định năng lực cũng như dọn đường cho sự thăng tiến vượt bậc trong sự nghiệp kế kiểm toàn cầu. Mời bạn tham khảo trọn bộ khóa học Chuẩn mực chứng chỉ lập Báo cáo Tài chính quốc tế tại đây:
Tầng 2 Toà A Chelsea Residences, Số 48 Trần Kim Xuyến, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội
Hotline: 0985 611 911
Vincom Đồng Khởi, Quận 1, TP. HCM
Hotline: 0947 511 911