CÁCH KIỂM TRA THUẾ NHƯ THẾ NÀO CHO ĐÚNG

Chênh Lệch Doanh Thu Giữa Tờ khai và Quyết Toán thuế TNDN

Đã bao giờ kiểm tra thuế, mình bị yêu cầu giải thích chênh lệch doanh thu giữa tờ khai thuế GTGT và doanh thu theo quyết toán thuế TNDN chưa? (Hình ảnh đính kèm minh họa một số nội dung cơ quan thuế thực hiện khi kiểm tra). Đây là một trong những bước kiểm tra rất cơ bản của cơ quan thuế trong quá trình kiểm tra – thanh tra. Khi có sự chênh lệch phát sinh, doanh nghiệp cần nắm rõ nguyên nhân gây ra chênh lệch để có giải thích hợp lý. Một số nguyên nhân được nêu ra như dưới đây

I. Doanh thu của hàng hóa cho, biếu, tặng

Theo quy định hiện hành, đối với hàng hóa cho, biếu, tặng (không thực hiện thủ tục đăng ký với cơ quan quản lý về Khuyến mại như Sở Công thương, bộ Công thương) , doanh nghiệp phải xuất hóa đơn, kê khai và tính thuế GTGT như giao dịch bán hàng thông thường. Như vậy, với hàng hóa – dịch vụ chịu thuế GTGT thì hóa đơn xuất đối với hàng hóa cho, biếu, tặng trong trường hợp này phát sinh doanh thu kê khai thuế GTGT.

Tuy nhiên, với thuế TNDN, nếu như trước đây theo thông tư số 123/2012/TT-BTC thì doanh thu của các hàng hóa, dịch vụ biếu tặng, tiêu dùng nội bộ cũng chịu thuế TNDN thì từ năm 2014, thông tư 78/2014/TT-BTC bỏ đi việc ghi nhận doanh thu phần biếu tặng cho, và TT 119/2014/TT-BTC bỏ thêm phần tiêu dùng nội bộ, dẫn tới sự chênh lệch.

II. Doanh thu cung cấp dịch vụ chênh lệch do thời điểm ghi nhận

Nếu như trước 2015, thời điểm ghi nhận doanh thu tính thuế GTGT và ghi nhận doanh thu tính thuế TNDN với hoạt động cung cấp dịch vụ đều là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền thì từ năm 2015 trở lại đây, quy định về thuế GTGT vẫn giữ nguyên trong khi quy định về thuế TNDN đã có sự thay đổi. Cụ thể, từ năm 2015, với thuế TNDN, thời điểm ghi nhận doanh thu đối với hoạt động cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ hoặc hoàn thành từng phần việc cung ứng dịch vụ cho người mua.

Tham chiếu tới quy định về hóa đơn, thời điểm lập hóa đơn cung cấp dịch vụ là ngày hoàn thành việc cung ứng dịch vụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Trường hợp tổ chức cung ứng dịch vụ thực hiện thu tiền trước hoặc trong khi cung ứng dịch vụ thì ngày lập hóa đơn là ngày thu tiền

Như vậy, chênh lệch sẽ xảy ra khi hoạt động cung ứng dịch vụ có thu tiền trước
Về thuế GTGT: Giao dịch thu tiền trước đã phải xuất hóa đơn, kê khai thuế GTGT
Về thuế TNDN: Giao dịch thu tiền trước chưa tạo ra doanh thu tính thuế TNDN

III. Giao dịch cho thuê tài sản

Về thuế GTGT, đối với hoạt động cho thuê tài sản, trường hợp cho thuê theo hình thức trả tiền thuê từng kỳ hoặc trả trước tiền thuê cho một thời hạn thuê thì giá tính thuế là tiền cho thuê trả từng kỳ hoặc trả trước cho thời hạn thuê chưa có thuế GTGT.

Về thuế TNDN, trường hợp doanh nghiệp không phải đang trong thời gian hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp mà bên đi thuê trả trước tiền cho nhiều năm thuê thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được phân bổ cho số năm trả tiền trước hoặc được xác định theo doanh thu trả tiền một lần

Như vậy, nếu như hoạt động cho thuê tài sản nhận trước tiền nhiều kỳ, doanh thu thuế GTGT tính trên số tiền trả trước thì doanh thu thuế TNDN được thực hiện trên cơ sở tính một lần hoặc phân bổ theo số năm trả trước tiền. Do đó, chênh lệch có thể xảy ra

IV. Doanh thu hàng hóa xuất khẩu

Theo quy đinh hiện nay về thuế GTGT, đối với hàng xuất khẩu, thời điểm xác định doanh thu tính thuế là thời điểm hoàn thành thủ tục hải quan. Với thuế TNDN, trường hợp này không được đề cập rõ trong Luật và các văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên theo hướng dẫn tại công văn 1892/TCT-CS ngày 23/05/2014, thời điểm ghi nhận doanh thu tính thuế TNDN đối với hàng hóa xuất khẩu là ngày xác nhận hoàn tất thủ tục hải quan trên tờ khai hải quan. Như vậy có thể thấy tinh thần hướng dẫn đang đồng nhất hai khoản doanh thu tính thuế GTGT và doanh thu thuế TNDN với hàng xuất khẩu.

Tuy nhiên, do công văn này chỉ là hướng dẫn cho một trường hợp cụ thể nên tham chiếu theo quy định pháp lý thì có thể có các quan điểm khác nhau khi ghi nhận doanh thu với hàng xuất khẩu. Đặc biệt trong các trường hợp hàng hóa được xuất khẩu theo điều khoản mà quyền sở hữu, sử dụng hàng hóa chỉ được chuyển giao sau khi hàng hóa đã được thông quan thực xuất khẩu. Khi đó, doanh thu tính thuế GTGT đã được ghi nhận nhưng doanh thu tính thuế TNDN có thể chưa được ghi nhận ở thời điểm hoàn thành thủ tục hải quan. Chưa kể nếu coi như doanh thu tính thuế TNDN được xác định theo báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của sổ sách kế toán thì để ghi nhận doanh thu bán hàng hóa, doanh thu phải đáp ứng đồng thời 05 điều kiện theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14.

Bên cạnh đó, hệ quả của việc ghi nhận doanh thu với hàng xuất khẩu ở những thời điểm khác nhau là việc sử dụng tỷ giá khác nhau để kê khai doanh thu tính thuế GTGT và hạch toán doanh thu thuế TNDN cũng gây ra chênh lệch giữa hai khoản doanh thu này.

V. Thu nhập khác từ thanh lý tài sản

Một số khoản thu nhập khác vẫn được kê khai là doanh thu chịu thuế GTGT. Ví dụ: Giao dịch thanh lý tài sản cố định

Về thuế GTGT: Giao dịch này tạo ra doanh thu kê khai thuế GTGT

Về thuế TNDN: Giao dịch này ghi nhận thu nhập khác trên báo cáo tài chính

Ngoài ra, các nguyên nhân gây ra sai sót có thể kể đến như
– Hạch toán sai tài khoản doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (511)
– Không xuất hóa đơn với các khoản ghi nhận doanh thu tính thu nhập chịu thuế theo quy định
– Hóa đơn xóa bỏ vẫn được ghi nhận doanh thu trên tờ khai hoặc trên sổ kế toán
– Xuất hóa đơn sai thời điểm, đặc biệt vào thời điểm kết thúc niên độ kế toán và kỳ tính thuế…

Tác giả: Việt Anh

Tải Bộ đề Ôn thi Đại lý thuế 2018

On thi dai ly thue bo de

Bí mật của kỳ thi chứng chỉ hành nghề Đại lý thuế.

Hãy check email của bạn để tải về nhé! Powered by ConvertKit

Bình Luận

Bài viết liên quan