
So sánh giữa IAS 23 và VAS 16 về chi phí đi vay là một nhiệm vụ quan trọng đối với các kế toán viên, đặc biệt trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang dần áp dụng các chuẩn mực quốc tế theo lộ trình của Bộ Tài chính. IAS 23, chuẩn mực quốc tế về chi phí đi vay, có nhiều điểm tương đồng với VAS 16 của Việt Nam, nhưng vẫn tồn tại những khác biệt quan trọng trong cách ghi nhận và vốn hóa chi phí đi vay.
Mục tiêu của việc so sánh IAS 23 và VAS 16 là giúp nhân sự Kế toán – Kiểm toán – Tài chính cần lưu ý rõ sự khác biệt của hai chuẩn mực này trong quá trình sử dụng, từ đó phân tích chi tiết những điểm giống và khác nhau trong việc xác định và vốn hóa chi phí đi vay. Điều này giúp họ có thể điều chỉnh, xử lý các chi phí liên quan đến vay nợ một cách chính xác và hiệu quả hơn, đặc biệt trong các dự án đầu tư lớn có liên quan đến xây dựng và sản xuất tài sản dở dang. Tuy nhiên, quá trình này yêu cầu sự tỉ mỉ và hiểu biết chuyên sâu về quy trình vốn hóa, thời điểm bắt đầu và kết thúc vốn hóa, cũng như việc tính toán các khoản chi phí đi vay chung và riêng biệt.
Bài viết này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan và chuyên sâu về sự tương đồng giữa IAS 23 và VAS 16, giúp các kế toán viên hiểu rõ cách áp dụng hai chuẩn mực này trong thực tế, đảm bảo tính minh bạch và chính xác trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp. vay của doanh nghiệp.
>> Xem thêm:
IAS 23 và VAS 16 đều định nghĩa về Chi phí đi vay là lãi tiền vay và các chi phí khác phát sinh liên quan trực tiếp đến các khoản vay của doanh nghiệp. Theo đó, chi phí đi vay bao gồm có: Chi phí lãi vay tính theo phương pháp lãi suất thực tế và chi phí tài chính của tài sản thuê tài chính. Đồng thời:
Đối với VAS 16 – Chi phí đi vay, (chi phí vay) định nghĩa chi phí vay là lãi tiền vay và các chi phí khác phát sinh liên quan trực tiếp đến các khoản vay của doanh nghiệp. Định nghĩa này giống với định nghĩa trong IAS 23 ”Borrowing costs”. Tuy nhiên trong phần giải thích định nghĩa này, theo VAS 16, chi phí vay không bao gồm khoản chênh lệch tỷ giá ngoại hối phát sinh từ việc vay ngoại tệ mà nó được xem như một khoản điều chỉnh chi phí lãi vay. Điều này tạo ra một sự khác biệt rất lớn mang tính nguyên tắc giữa VAS 16 và IAS 23 chi phí vay (Borrowing cost).
Đối với IAS 23 chi phí vay bao gồm cả chênh lệch tỷ giá phát sinh từ việc vay ngoại tệ mà chúng được xem là một khoản điều chỉnh cho chi phí lãi tiền vay (interest costs). Chi phí vay mà chúng có thể liên quan trực tiếp với việc mua sắm, xây dựng hoặc sản xuất một phần của tài sản dài hạn là chi phí của tài sản đó và do vậy nó phải được vốn hóa (tức ghi nhận vào giá trị tài sản). Các chi phí vay tiền khác được ghi nhận là một khoản chi phí. Theo IAS 23 phiên bản được chỉnh sửa bởi Hội Đồng Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế – IASB vào tháng 3 năm 2007 đã cấm việc ghi nhận ngay vào chi phí của các chi phí vay tiền này.
Ghi nhận chênh lệch tỷ giá hối đoái được trình bày trong VAS 10 và thông tư 161/2007/TT-BTC quy định chỉ có các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái cho các tài sản cố định của doanh nghiệp mới thành lập mới được vốn hóa và phân bổ trong vòng tối đa 5 năm, còn doanh nghiệp đang hoạt động, thì kể cả việc chênh lệch tỷ giá phát sinh trực tiếp cho tài sản dài hạn vẫn phải ghi vào lãi lỗ trong kỳ, không được vốn hóa. Quy định này của VAS 10 đã làm méo mó kết quả tài chính của doanh nghiệp. Ví dụ công ty SGB đang hoạt động bình thường và có một dự án lớn, công ty vay để xây dựng và mua nợ máy móc thiết bị bằng USD rất lớn, năm 2010 chênh lệch tỷ giá cho dự án này lên đến 20 tỷ vnd. Theo VAS 10, GSB phải ghi nhận và báo cáo khoản chi phí tài chính 20 tỷ vnd này làm cho lãi hoạt động kinh doanh trở nên số âm thay vì lãi 19 tỷ vnd. Các nhà đầu tư phải đọc báo cáo tài chính phản ánh không trung thực kết quả và tình hình tài chính của SGB. Trong khi nếu phản ánh đúng bản chất như IAS 23 lãi kinh doanh thông thường là 19 tỷ vnd, còn 20 tỷ vnd được vốn hóa chứ không phải đưa vào lỗ của hoạt động kinh doanh của SGB.
>> Xem thêm:
Cả IAS 23 và VAS 16 đều chia chi phí đi vay được vốn hóa thành hai trường hợp cụ thể, dựa trên nguồn gốc khoản vay mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho tài sản dở dang. Theo đó có 2 trường hợp phổ biến:
– Khoản vay vốn riêng riêng biệt: Đối với các khoản vay riêng biệt dùng cho mục đích đầu tư xây dựng hoặc sản xuất một tài sản dở dang cụ thể, chi phí đi vay đủ điều kiện vốn hóa sẽ là chi phí lãi vay thực tế phát sinh từ khoản vay, sau khi đã trừ đi thu nhập tạm thời từ việc đầu tư số tiền vay chưa sử dụng ngay. Điều này có nghĩa là nếu một phần khoản vay chưa được sử dụng và doanh nghiệp tạm thời đầu tư số tiền đó để sinh lời, thì phần thu nhập từ các khoản đầu tư tạm thời này sẽ được khấu trừ khỏi chi phí đi vay trước khi vốn hóa.
– Phát sinh các khoản vốn vay chung: Khi doanh nghiệp sử dụng các khoản vay chung để đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang, chi phí đi vay đủ điều kiện vốn hóa sẽ được tính dựa trên tỷ lệ vốn hóa bình quân gia quyền của chi phí vay phát sinh trong kỳ. Tỷ lệ này sẽ được áp dụng vào tổng chi phí lũy kế cho việc đầu tư hoặc sản xuất tài sản dở dang trong kỳ đó. Tổng số chi phí đi vay được vốn hóa trong kỳ không được vượt quá tổng chi phí vay thực tế phát sinh trong kỳ. Điều này đảm bảo rằng chi phí vốn hóa không vượt quá thực tế và giúp doanh nghiệp phân bổ hợp lý chi phí đi vay giữa các tài sản hoặc dự án.
IAS 23 và VAS 16 đều quy định việc vốn hóa chi phí đi vay vào giá trị của tài sản dở dang được bắt đầu khi cả ba điều kiện sau đây được đáp ứng:
Chi phí cho việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất một tài sản dở dang bao gồm các chi phí phải thanh toán bằng tiền, chuyển giao các tài sản khác hoặc chấp nhận các khoản nợ phải trả lãi, không tính đến các khoản trợ cấp hoặc hỗ trợ liên quan đến tài sản.
Các hoạt động cần thiết cho việc chuẩn bị đưa tài sản vào sử dụng hoặc bán bao gồm hoạt động xây dựng, sản xuất, hoạt động kỹ thuật và quản lý chung trước khi bắt đầu xây dựng, sản xuất như hoạt động liên quan đến việc xin giấy phép trước khi khởi công xây dựng hoặc sản xuất. Tuy nhiên những hoạt động này không bao gồm việc giữ một tài sản khi không tiến hành các hoạt động xây dựng hoặc sản xuất để thay đổi trạng thái của tài sản này.
Việc vốn hoá chi phí đi vay sẽ chấm dứt khi các hoạt động chủ yếu cần thiết cho việc chuẩn bị đưa tài sản dở dang vào sử dụng hoặc bán đã hoàn thành. Chi phí đi vay phát sinh sau đó sẽ được ghi nhận là chi phí sản xuất và chi phí kinh doanh trong kỳ khi phát sinh.
Khi quá trình đầu tư xây dựng tài sản dở dang hoàn thành theo từng bộ phận và mỗi bộ phận có thể sử dụng được trong khi vẫn tiếp tục quá trình đầu tư xây dựng các bộ phận khác, thì việc vốn hoá các chi phí đi vay sẽ chấm dứt khi tất cả các hoạt động chủ yếu cần thiết cho việc chuẩn bị đưa từng bộ phận vào sử dụng hoặc bán đã hoàn thành.
>> Tìm hiểu thêm:
| Tiêu chí | IAS 23 | VAS 16 |
|---|---|---|
| Định nghĩa về chi phí đi vay |
Bổ sung thêm phần quy định về: Chênh lệch tỷ giá phát sinh từ các khoản vay bằng ngoại tệ nếu được điều chỉnh vào chi phí lãi tiền vay. |
Giống như đã nêu ở phần trên |
| Ghi nhận chi phí đi vay | Có 2 phương pháp ghi nhận:
IAS 23 sửa đổi có hiệu lực đối với năm tài chính bắt đầu hoặc sau ngày 01/01/2009 quy định việc vốn hoá chi phí đi vay liên quan đến việc hoàn thành các tài sản dở dang. |
Chi phí đi vay liên quan trực tiếp đến việc đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang được tính vào giá trị của tài sản đó (được vốn hoá) khi có đủ các điều kiện quy định trong chuẩn mực này. |
| Tiêu chuẩn của tài sản được vốn hóa chi phí đi vay. |
Theo IAS 23, tài sản đủ điều kiện (qualifying asset) được vốn hóa chi phí đi vay là tài sản (bao gồm tài sản dài hạn và hàng tồn kho) cần có một thời gian đáng kể để sẵn sàng để bán hoặc đưa vào sử dụng. IAS 23 không quy định chính xác về khoảng thời gian này. |
VAS 16 yêu cầu khoảng thời gian này phải trên 12 tháng và chỉ cho phép vốn hóa chi phí đi vay đối với tài sản dài hạn. |
| Phương pháp tính chi phí lãi vay |
Theo IAS 23, chi phí lãi vay được vốn hóa tính theo phương pháp lãi suất hiệu quả (effective interest method) theo quy định của IFRS 9 – Công cụ tài chính. Lãi suất hiệu quả là lãi suất chiết khấu chính xác của các khoản thanh toán hoặc thu về trong tương lai, thông qua dòng đời dự kiến của khoản vay. Khi tính toán lãi suất hiệu quả, doanh nghiệp sẽ ước tính tất cả dòng tiền theo điều khoản của hợp đồng vay, bao gồm các khoản phí và chi phí giao dịch. |
VAS 16 không đề cập đến phương pháp lãi suất hiệu quả, có thể hiểu rằng chi phí lãi vay theo VAS 16 là khoản chi phí lãi vay thanh toán thực tế theo hợp đồng vay. |
| Chi phí đi vay – hạch toán thay thế được phép |
Phần thặng dư vốn cổ phần giữa giá trị ghi sổ của tài sản dở dang và giá trị có thể thu hồi được. Khi giá trị hoặc chi phí ước tính sau cùng của tài sản lớn hơn giá trị có thể thu hồi của giá trị thuần có thể thực hiện được, giá trị còn lại được ghi giảm (xóa sổ) theo các yêu cầu của IAS khác. |
Không đề cập đến. |
| Thời điểm bắt đầu vốn hóa | Không đề cập. |
Bổ sung thêm: Chi phí phát sinh cho tài sản dở dang được giảm trừ khi bất kỳ khoản thanh toán theo tiến độ kế hoạch đã nhận và các khoản trợ cấp đã nhận liên quan đến tài sản (IAS 20, kế toán các khoản trợ cấp của Chính phủ và thuyết minh khoản tài trợ của chính phủ). |
| Tạm ngừng vốn hóa |
Không được dừng việc vốn hóa trong những kỳ đang thực hiện công việc hành chính và kỹ thuật quan trọng. |
Việc vốn hóa chi phí đi vay sẽ được tạm ngừng lại trong các giai đoạn mà quá trình đầu tư xây dựng hoặc sản xuất tài sản dở dang bị gián đoạn, trừ khi sự gián đoạn đó là cần thiết. |
| Các trường hợp không được tạm ngừng vốn hóa |
Tất cả bộ phận cần được hoàn tất trước khi bất kỳ phần tài sản nào có thể có được bán hoặc sử dụng (ví dụ nhà xưởng). Trong quá trình này, có thể xuất hiện các gián đoạn ngắn trong hoạt động do công tác hành chính và kỹ thuật quan trọng đang được thực hiện. Đặc biệt, cần chú ý đến các chậm trễ tiềm ẩn trong quá trình mua tài sản để tránh ảnh hướng đến tiến độ chung. |
Không đề cập. |
| Sự chênh lệch về tỷ giá của các khoản vay bằng ngoại tệ |
Theo IAS 23, chi phí đi vay có thể bao gồm các khoản chênh lệch tỷ giá từ các khoản vay bằng ngoại tệ. |
VAS 16 không đề cập đến vấn đề này. |
Doanh nghiệp vay ngân hàng từ ngày 01/01/2022 với số tiền là 1 tỷ đồng để xây dựng nhà xưởng. Trong giai đoạn xây dựng từ 01/03/2022 tới ngày 31/12/2022, doanh nghiệp không tiến hành thanh toán đầy đủ phần khối lượng nhà thầu đã thi công dẫn tới việc xảy ra tranh chấp, khởi kiện giữa 2 bên. Do đó mà việc xây dựng bị tạm ngừng 4 tháng cụ thể là từ 01/04 tới 31/08 năm 2022. Vào ngày 01/09/2022 mâu thuẫn giữa 2 bên đã được giải quyết xong, doanh nghiệp tiếp tục công việc xây dựng nhà xưởng. Sau khi xây xong, nhà thầu tạm ngừng nửa tháng từ 01/12/2022 tới 15/12/2022 để tường khô và đủ điều kiện kỹ thuật tiếp tục sang giai đoạn sơn.
Theo VAS 16 về việc tạm ngừng vốn hóa:
Theo IAS 23 thì:
>> Xem thêm:
VAS 16 được ban hành dựa trên chuẩn mực kế toán quốc tế số 23 (IAS 23), sự hòa hợp giữa VAS và IAS là một trong những bước đi quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Về cơ bản, tại thời điểm ban hành VAS 16 được đánh giá là đã hòa hợp với IAS 23) và có điểm tiến bộ hơn hẳn IAS 23, trong việc quy định vốn hóa chi phí đi vay.
Trong nội dung của VAS 16 quy định cụ thể về phạm vi áp dụng của chuẩn mực, về Tài cần được vốn hóa chi phí đi vay, về các yếu tố của chi phí đi vay, về xác định chi phí đi vay được vốn hóa. Tuy nhiên, từ khi ban hành đến nay, VAS 16 bộc lộ rất nhiều điểm hạn chế trong quá trình vận dụng và đã không có bất cứ một sự thay đổi hay điều chỉnh nào để phù hợp với thực tế. Chính vì vậy, việc đánh giá và thảo luận lại VAS 16 là một trong những vấn đề cần thực hiện trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt là trong giai đoạn mà Bộ Tài chính đang lấy ý kiến về dự thảo các CMKT mới (dự kiến ban hành vào năm 2016) và VAS 23 cũng đang trong quá trình soạn thảo và lấy ý kiến.
Đến năm 2024, với sự phát triển của nền kinh tế và yêu cầu cao hơn từ thị trường, việc đánh giá lại chuẩn mực kế toán trở nên cấp thiết. Cần có các điều chỉnh phù hợp trong VAS 16, nhằm tạo ra một môi trường linh hoạt hơn cho doanh nghiệp trong việc xác định và vốn hóa chi phí đi vay. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc thực hiện báo cáo tài chính mà còn nâng cao tính chính xác trong việc phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp. Việc tổ chức các khóa đào tạo, hội thảo về chuẩn mực kế toán quốc tế cho các kế toán viên và doanh nghiệp cũng cần được đẩy mạnh, giúp họ nắm bắt rõ hơn về các quy định mới và cách áp dụng chúng trong thực tiễn.
Như vậy, bài viết trên đã “vạch trần” những khác biệt cốt lõi giữa IAS 23 và VAS 16 về chi phí đi vay và việc áp dụng chuẩn mực quốc tế trong kế toán doanh nghiệp. Tuy nhiên, trước bối cảnh phần lớn doanh nghiệp Việt “buộc phải” áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS, đã và đang “rục rịch” chuyển đổi báo cáo từ VAS sang IFRS. Nhiều kế toán tỏ ra “lúng túng” khi không biết phải xử lý báo cáo tài chính như thế nào cho chuẩn chỉnh và bài bản, nhiều bạn muốn nắm bắt cơ hội làm việc tại các tập đoàn đa quốc gia nhưng lại phải “ngậm ngùi” nhường cơ hội cho người khác vì không nắm rõ phương pháp, quy trình chuyển đổi báo cáo tài chính như nào cho đúng?
Hiểu rõ điều đó, TACA tổ chức Khóa học chuyển đổi báo cáo tài chính từ VAS sang IFRS nhằm hướng dẫn học viện thực hành chuyển đổi báo cáo tài chính chuẩn chỉnh nhờ thấu hiểu bản chất, nguyên lý từng chuẩn mực kế toán, nắm chắc các bút toán điều chỉnh cho giao dịch theo hệ thống chuẩn mực IFRS, am tường cách thức chuyển đổi các khoản mục quan trọng trên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và thành thạo lập, trình bài báo cáo tài chính riêng lẻ, báo cáo tài chính hợp nhất theo IFRS… nắm chắc công cụ chuyển đổi báo cáo tài chính theo nhu cầu từng doanh nghiệp cụ thể.
>> Tham khảo ngay khóa học Chuyển đổi báo cáo tài chính VAS sang IFRS tại đây:
Với đội ngũ giảng viên là các trưởng phòng cấp cao/ giám đốc chuyên môn tại các đơn vị hàng đầu, các tập đoàn kinh tế lớn nhiều năm áp dụng IFRS thành công. Chúng tôi cam kết truyền đạt toàn bộ kiến thức cốt lõi, các thông tin cập nhật mới nhất và cả những ví dụ, kinh nghiệm, kỹ năng thực tế giúp bạn dễ dàng: Am tường bản chất của từng chuẩn mực IFRS quan trọng, nâng cao khả năng phân tích sự khác biệt giữa VAS và IFRS trong việc lập, trình bày báo cáo tài chính; nắm rõ phương pháp, quy trình chuyển đổi báo cáo tài chính (BCTC) từ VAS sang IFRS, cũng như chủ động xây dựng chương trình chuyển đổi VAS sang IFRS theo nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp.
>> Đặc biệt, để sở hữu chứng chỉ Báo cáo tài chính quốc tế CertIFR, DipIFR danh giá nhằm khẳng định năng lực cũng như dọn đường cho sự thăng tiến vượt bậc trong sự nghiệp kế kiểm toàn cầu. Mời bạn tham khảo trọn bộ khóa học Chuẩn mực chứng chỉ lập Báo cáo Tài chính quốc tế tại đây:
Tầng 2 Toà A Chelsea Residences, Số 48 Trần Kim Xuyến, Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội
Hotline: 0985 611 911
Vincom Đồng Khởi, Quận 1, TP. HCM
Hotline: 0947 511 911